Món Ăn Ngon Ở Yên Bái / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Raffles-hanoi.edu.vn

Các Món Ăn Ngon Ở Yên Bái

--- Bài mới hơn ---

  • 8 Món Ăn Ngon Truyền Thống Ngày Tết Bắc, Trung, Nam Dễ Làm
  • Các Món Ăn Ngon Cho Bé Yêu
  • 9 Món Ăn Hàng Đầu Ở New York
  • 15 Món Ăn Tuyệt Ngon Mà Không Lo ‘đau Ví’ Ở New York
  • Món Ăn Ngon Ở New York Ghi Đậm Dấu Ấn
  • Nếp Tú Lệ được xếp vào một trong những loại nếp ngon nhất nước ta, đồ lên thành xôi có vị thơm ngọt và dẻo, rời từng hạt chứ không dính chặt lấy nhau như đa phần các loại nếp thường khác. Nếp Tú Lệ còn gọi là nếp Tan Lả (theo tiếng của người Thái) là loại gạo nếp đặc sản chỉ có ở thung lũng Tú Lệ, Văn Chấn, Yên Bái.

    Nếp Tú Lệ được xếp vào một trong những loại nếp ngon nhất nước ta, đồ lên thành xôi có vị thơm ngọt và dẻo, rời từng hạt chứ không dính chặt lấy nhau như đa phần các loại nếp thường khác. Nếp Tú Lệ còn gọi là nếp Tan Lả (theo tiếng của người Thái) là loại gạo nếp đặc sản chỉ có ở thung lũng Tú Lệ, Văn Chấn, Yên Bái.

    Gạo nếp ở đây rất ngon, dẻo thơm nổi tiếng là vì cánh đồng lúa được tưới mát bởi con suối đầu nguồn Mường Lùng, lúa được gieo trồng trên một nền đất hiếm, tầng phong hóa mỏng, nồng độ kali cao, thung lũng Tú Lệ lại nằm gọn giữa ba ngọn núi cao là Khau Phạ, Khau Thán và Khau Song nên biên độ dao động nhiệt độ trong ngày lớn, thời gian đêm dài hơn ngày. Đây là yếu tố quan trọng làm tăng mạch tinh bột Aminôtécpin, quyết định sự dẻo thơm của hạt gạo. Thêm nữa là cấu tạo của đất Tú Lệ tơi xốp, dễ thấm nước và khí hậu trong lành, thuận lợi cho cây lúa phát triển tự nhiên nên cây nếp Tan Lả trồng xuống bén rễ xanh non mơn mởn. Chính vì vậy nếp Tan Tú Lệ được coi là gạo sạch và có mùi thơm rất lạ. Điều đặc biệt hơn nữa là không nơi nào trồng được loại lúa này mà cho thứ gạo thơm, dẻo như vùng thung lũng Tú Lệ.

    Với những du khách đã từng đến Tú Lệ được thưởng thức các món ăn được chế biến từ gạo nếp Tú Lệ như: Cốm, cháo cốm vịt, xôi nếp ngũ sắc, cơm lam… được các cô gái Thái thổi hồn, nhấp chén rượu nếp Tú lệ do những đôi tay ngà mời lâng lâng trong tiếng “Khắp mời lẩu” – Hát mời rượu, say trong điệu xoè nồng hậu mới thấm hơn cái hồn của xứ Thái và ý nghĩa sâu xa của câu ca:

    “Mường Lò gạo trắng nước trong

    Ai đi đến đó lòng không muốn về”

    Xôi ngũ sắc Yên Bái được làm từ các nguyên liệu khá đặc biệt. Ngay từ cách lựa chọn nguyên liệu, người ta cũng phải chú ý thật kỹ càng, phải lựa chọn được loại gạo ngon thì xôi mới dẻo, thơm (gạo Tú Lệ; hạt to). Ngoài ra, để tạo màu cho xôi người ta dùng các loại lá rừng (lá cẩm…) hoặc củ nghệ, quả gấc (cơm tím; cơm đỏ; cơm đen; cơm cam; cơm vàng; cơm trắng).

    Theo những người lớn tuổi ở Mường Lò kể lại, muốn xôi ngũ sắc thật thơm, ngon và có hương vị ngọt ngào thì phải lấy được nước suối nguồn để đồ xôi. Để màu xôi không lẫn vào nhau, khi đồ xôi người ta để lần lượt từng màu gạo lên nhau. Khi đồ xôi phải trông liên tục để giữ cho lửa cháy đều và nếu không muốn xôi ngậy có thể cho một lớp mỡ gà mỏng lên xôi.

    Đối với người dân Mường Lò – Yên Bái, xôi ngũ sắc mang ý nghĩa rất đặc biệt, xôi ngũ sắc tượng trưng cho thuyết âm dương ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ). Nếu xôi màu đỏ, mang ý nghĩa tượng trưng cho khát vọng cuộc sống; xôi màu tím, tượng trưng cho đất đai trù phú, quý giá; xôi màu vàng tượng trưng cho sự ấm no, phồn thịnh; Còn xôi màu xanh, tượng trưng cho cảnh sắc tuyệt đẹp của núi rừng đại ngàn Tây Bắc, của bầu trời xanh bao la; xôi trắng, tượng trưng cho tình yêu trong trắng, thủy chung…

    Năm 2008, xôi ngũ sắc đã được đưa vào kỷ lục Guinness Việt Nam với mâm xôi lớn nhất Việt Nam có trọng lượng 1,3 tấn, đường kính 2,8m, dày 30cm. Ngày nay, xôi ngũ sắc Yên Bái thường được làm vào các dịp lễ hội lớn như: Lễ hội Lồng Tồng (cầu mùa), Tết Nguyên Đán, Tết Xíp Xí (14/7) …

    Mắc khén Yên Bái hay còn có một cái tên gọi khác là hạt tiêu rừng, loại gia vị này khiến cho người nào lần đầu nhìn thấy sẽ liên tưởng ngay đến cây hồ tiêu dại được mọc rất nhiều trong rừng. Tuy nhiên không phải vậy đây là một loại cây thân gỗ rất lớn mọc trong rừng từ Mắc trong tên của loại gia vị này có nghĩa là quả từ Khén có nghĩa là cây lớn. Loại cây này được mọc rất nhiều trong rừng chúng có kích cỡ lớn thuộc họ hồi có tinh dầu và hương rất thơm. Có thể nói Mắc khén Yên Bái trở thành một loại cây huyền thoại cung cấp một loại gia vị tuyệt ngon đậm đà không thể thiếu trong bữa cơm hàng ngày của người dân nơi đây.

    Mỗi khi mùa lúa chín rộ, ấy là lúc bắt đầu mùa muồm muỗm. Thoạt trông, muồm muỗm có vẻ giống con cào cào, nhưng nhìn kỹ thấy mình nó thon, cánh nhỏ gọn hơn nhiều. Người ta bảo muồm muỗm thường ăn các loại trứng sâu, muỗi… trong các ruộng lúa nên được xếp là một loại “thiên địch”, là bạn của người nông dân.

    Khâu sơ chế muồm muỗm cũng không đơn giản. “Vặt cánh, bẻ chân, ngắt đầu, rút ruột” là 4 khâu cơ bản để tạo nên hình hài một chú muồm muỗm trên bàn nhậu. Trải qua 4 khâu, muồm muỗm được rửa sạch, để ráo nước rồi cho vào chảo.

    Đầu tiên, muồm muỗm được om với nước măng chua trên bếp lửa liu riu. Cạn nước, cho ngay mỡ (hoặc dầu ăn) vào, đảo đều tay trên bếp to lửa. Khi nào nghe tiếng nổ lách tách tức là muồm muỗm đã chín giòn.

    Nêm nếm gia vị vừa đủ cùng với mì chính, một chút ớt tươi và đảo nhanh tay; cuối cùng, cho lá chanh thái chỉ nhỏ vào, đảo đều chín tới lá chanh là bắc chảo ra được.

    Tháng 7 âm lịch khi nhãn Mường Lò chín rộ, mùa bọ xít nhãn đã hết, những cơn mưa rào tự nhiên bỗng nhẹ đi và kéo dài ra để bước vào tháng ngâu, cỏ non bắt đầu nhú lên cũng là lúc những con dế trở nên mập mạp, bóng bẩy, béo ngậy và món dế trở thành món chủ đạo trong các quán. Người ta bắt dế bằng nhiều cách và không mấy khó khăn như đào hang, đổ nước; tối đến trẻ em bắt dế quanh các cột đèn cao áp tại các tuyến phố Nghĩa Lộ. Ở đây bắt dế không khó và vùng Mường Lò dế rất nhiều nên giá dế ở chợ Mường Lò cũng không đắt, khoảng 5 đến 7 nghìn đồng một lạng; một lạng dế được cả đĩa cho 2 người ăn.

    Về miền Tây Yên Bái mùa ngâu, nếm giọt rượu nếp nồng nàn và thưởng thức món Dế mèn rán giòn rụm, tan nơi đầu lưỡi để ngậm ngùi và để nhớ:

    Để nghe tiếng võng đong đưa của bà

    Rình con Dế cụ thò ra thụt vào…

    Bánh chưng đen Mường Lò của người Thái không chỉ hấp dẫn bởi màu sắc đặc biệt mà còn có hương vị tuyệt vời. Những ai đã thưởng thức bánh sẽ không thể quên được độ dẻo dẻo, vị ngọt ngọt, béo béo quyện lại với nhau tạo nên 1 món ngon khó thể cưỡng lại.

    Giống như bánh chưng xanh của người Kinh, bánh chưng đen Mường Lò của người Thái cũng được cha truyền con nối qua nhiều thế hệ. Cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về, được thưởng thức miếng bánh chưng đen, mùi gạo quyện với than núc nác, hoa cây vừng đen như có cảm giác thưởng thức cả mùi cỏ cây, ruộng đồng, đất trời và thiên nhiên miền Tây Yên Bái.

    Chiếc bánh được tạo ra với ý nghĩa thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời. Món bánh đặc sản này cũng không thể thiếu trên mâm cỗ cúng tổ tiên, đất trời mỗi khi xuân về.

    Ngày trước, loại bánh này chỉ xuất hiện tại những ngày lễ, Tết, giỗ chạp… nhưng hiện nay nó đã trở thành món ăn phổ biến mà bất cứ ai khi tới đây đều muốn mua về làm quà tặng người thân, bạn bè hay thưởng thức ngay tại chỗ.

    Bà con dân tộc Thái gọi rau dớn là “phác pút”. Rau dớn không có ở đồng bằng, chỉ có ở vùng núi – nơi bờ suối, bờ khe, dưới các tán rừng thấp nơi có độ ẩm ướt cao. Đối với nhiều tộc người, rau dớn là “vua” loại rau, nó chẳng những giúp cải thiện chất lượng bữa ăn hằng ngày mà còn là món đặc sản để đãi khách trong các lễ hội. Mỗi lần tổ chức lễ hội của gia đình hay cộng đồng, người ta tranh thủ vào rừng hái rau dớn để chế biến thức ăn. Vì loại rau này nhanh bị dập nát nên được bà con hái đến đâu sử dụng đến đó, bảo đảm rau luôn tươi xanh, chất lượng.

    Rau dớn có thể chế biến thành nhiều món. Để làm món rau dớn xào, một gia vị không thể thiếu đó là tỏi. Tỏi giã dập, phi thơm rồi cho rau dớn vào đảo đều năm phút và bắc xuống nêm đường, bột ngọt, tương ớt, hạt tiêu, nước chanh tươi, lạc rang giã nhỏ…

    Còn món nộm rau dớn luôn làm hài lòng những thực khách khó tính nhất. Làm món nộm không khó, rau dớn được lấy phần ngọn non, các lá bánh tẻ, rửa sạch. Luộc rau bằng cách đun nước cho thật sôi, to lửa rồi bỏ rau vào, lật lên khi nước vừa sôi thì vớt ra, để vào rổ cho róc nước.

    Từ nguyên liệu tôm nõm, thịt lợn thăn, dầu thực vật và các loại gia vị của vùng Mường Lò cùng với kinh nghiệm truyền thống của đồng bào Tây bắc đã tạo nên hương vị đặc trưng của sản phẩm ruốc Tôm.

    Ruốc tôm là một món ăn tưởng chừng như rất đơn giản và dễ làm nhưng không phải ai làm theo công thức đó cũng ngon. Mỗi người, mỗi vùng miền đều có những bí quyết riêng tạo nên sự khác biệt trong hương vị của từng món ăn. Ghé thăm miền Tây Yên Bái, nơi có những bàn tay khéo léo đã chế biến món ăn này từ những nguyên liệu hết sức gần gũi để mang lại đầy đủ vị ngon đến với người thưởng thức.

    Để làm được món ruốc tôm ngon thì việc chọn nguyên liệu cũng rất quan trọng. Từ nguyên liệu tôm nõm, thịt lợn, dầu thực vật và các loại gia vị của vùng Mường Lò cùng với kinh nghiệm truyền thống của đồng bào Tây Bắc đã tạo nên hương vị đặc trưng của sản phẩm ruốc tôm.

    Nguyên liệu để làm món ruốc tôm gồm: Tôm nõn (tôm suối) bóc vỏ, thịt lợn (nạc vai), dầu thực vật, gia vị. Tôm chọn con mình mẩy, to đều, rửa sạch bóc vỏ, bỏ chỉ đen trên lưng và phần đầu tôm. Cho tôm vào cối giã nhỏ. Thịt lợn băm nhỏ, sau đó cho dầu vào chảo rang thịt chín kỹ rồi cho tôm giã nhỏ vào đảo đều, cho gia vị, thêm vài giọt nước mắm cho ruốc tôm thêm đậm đà. Khi rang để lửa thật nhỏ, liu riu để tôm và thịt chín đều đến khi vừa khô là được. Sau khi sao khô để nguội đóng hộp ăn dần.

    Rêu suối Mường Lò vừa dài, vừa êm lại vừa rất xanh mát vì thế cho nên từ lâu nó đã trở thành một món ăn của người Thái nơi đây. Để có thể cảm nhận hết vị ngon của rêu thì phải ra tận suối để vớt hoặc hái rêu và trải nghiệm quá trình chế biến của món ẩm thực độc đáo này.

    Theo người dân nơi đây, rêu suối Mường Lò xuất hiện rất kỳ lạ, giống như là nó được sinh ra bắt nguồn từ truyền thuyết về dòng Thia vậy. Vào độ tháng 9, tháng 10 cho đến tháng 5 tính theo lịch âm đó là mùa rêu đá ở Mường Lò. Rêu cứ như thế mọc lên ở tất cả các hòn đá có trong suối, chỉ có màu xanh đậm và không hề ra hoa kết quả. Vậy là đều đặn hàng năm, rêu cứ mọc như là một quy luật tự nhiên, khi mọc dài đến kích thước nhất định thì sẽ tự rụng và cuốn trôi theo dòng nước.

    Mùa xuân là thời điểm rêu suối Mường Lò ngon nhất. Nếu muốn chọn được rêu sạch và non thì cần phải lấy rêu ở nơi có dòng suối chảy xiết và tập trung nhiều tảng đá to. Tuy nhiên, việc lấy rêu suối cũng không phải đơn giản bởi rêu thường nằm sâu ở dưới nước nên cần lội xuống mới có thể hái được rêu.

    Măng sặt Yên Bái là loại măng thuộc họ tre, búp măng thẳng, to bằng chuôi liềm, mọc tự nhiên ở các vùng đồi của tỉnh Yên Bái như Văn Chấn, Trạm Tấu, nhiều nhất là ở thị xã Nghĩa Lộ.

    Vào mùa xuân, khi tiết trời có mưa ẩm, khoảng từ tháng 2 đến tháng 4 dương lịch, măng sặt phát triển rất nhanh, những ngọn măng nhú lên trên mặt đất, đồng bào các dân tộc người Thái, người Khơ Mú, người Dao thường dùng cuốc, thuổng, khéo léo đào lấy ngọn măng nằm sâu trong đất. Những ngọn măng tươi, còn lấm đất khi bóc ra sẽ mập mạp, trắng ngần, tươi ngon.

    Bên cạnh đó, một món ăn chế biến từ măng sặt Yên Bái được rất nhiều du khách yêu thích đó là món măng sặt nướng, một món ăn vô cùng lạ lùng vô cùng hấp dẫn nhiều người. Măng sặt tươi khi mới đào về cho trên bếp than hồng, nướng chín đều, khi ăn bóc từng lớp vỏ bên ngoài chấm với mắm ớt sẽ cảm thấy rất thơm và ngọt, một món ăn thú vị và lạ lùng.

    Ngoài ra măng sặt luộc chín, đem rán vàng rồi om với thịt vịt và tỏi, ăn nóng với hạt tiêu, hành, mùi rất lạ miệng. Măng sặt bóc vỏ đập dập ninh cùng sườn lợn thêm tỏi, cà chua, hành, mùi có vị ngon đậm đà. Măng sặt xào lòng gà, măng xào lòng vịt cũng rất thơm ngon. Măng sặt chẻ nhỏ ngâm với dấm ớt đóng lọ ăn dần cũng được nhiều người yêu thích.

    Măng vầu thuộc họ tre, thân nhỏ không có gai. Mọc ở rừng hoặc trên núi. Hàng năm, cứ đến tháng mười hai, khi mưa xuân lây phây, từ dưới lớp lá hoai mục, măng bắt đầu đội đất nhú lên, lộ hai tai nhỏ xíu xanh thẫm. Măng vầu ngon nhất vào tháng mười hai đến khoảng giữa tháng ba, những củ măng to, tròn và rất ngọt. Hầu như ở khắp các góc chợ miền núi đều có thứ đặc sản này. Tuy nhiên, người dân vẫn ý thức được việc bảo vệ rừng nên việc khai thác chỉ mang tính chất nhỏ lẻ, phục vụ bữa ăn thường nhật là chủ yếu.

    Ngoài cách chế biến măng vầu nhồi thịt, ta còn được thưởng thức món măng vầu xào tỏi hoặc xào rau răm. Măng tươi thái nhỏ, phi tỏi thật thơm cùng nhiều mỡ mới cho măng vào, măng ăn sẽ ngọt và giòn sần sật. Bên mâm cơm chiều, tiết trời lành lạnh, lãng đãng sương, âm thanh trong trẻo của núi rừng rất hợp với ẩm thực kiểu này. Nếu có dịp đặt chân đến một trong những tỉnh miền núi phía Bắc, bạn đừng quên thưởng thức món măng này.

    Có thể nói món Măng chua héo Yên Bái là một món ăn nếu bảo quản tốt sẽ để được rất lâu. Mọi người dân nơi đây cho rằng đây là một món ăn vừa ngon lại làm được nguồn thức ăn dự trữ vô cùng tốt. Có nhà để được món ăn này đến vài tháng trời thậm chí cả năm nhưng nó hoàn toàn không bị hư hỏng mà thay vào đó vẫn giữ nguyên được hương vị tuyệt vời như ban đầu. Như vậy qua những điều đó món Măng chua héo Yên Bái này hoàn toàn trở thành một món ăn đạt chuẩn có mặt trong mọi gia đình người dân nơi đây.

    Theo lệ, cứ vào độ tháng hai, tháng ba âm lịch hằng năm là vào mùa trứng kiến. Khi đó bà con lại rủ nhau vào rừng. Nhưng muốn lấy được nguyên liệu trứng kiến ngon thì phải lấy vào những ngày nắng ráo. Nếu không trứng kiến thấm nước mưa sẽ ăn không ngon. Thường công việc này do cánh đàn ông đảm nhận, còn đến khi chế biến thì thường phụ nữ làm rất khéo.

    Không phải loại kiến nào cũng có thể lấy trứng để chế biến món ăn. Kinh nghiệm của bà con là loại kiến để lấy trứng là kiến ngạt, có màu đen. Khi vào rừng, bà con tìm những tổ kiến to ở trên cây và chặt xuống để lấy trứng. Tuy nhiên, không bao giờ người vùng cao lấy hết trứng trong tổ. Bao giờ bà con cũng chừa lại một phần để kiến còn sinh sản cho vụ sau.

    Chế biến xôi trứng kiến khá tỉ mỉ và cẩn thận. Gạo nếp ngâm và vo sạch, ngâm từ 3-4h sau đó mới vớt ra, rồi đem đồ. Khi thấy những hạt gạo căng phồng, chuyển thành màu trắng trong, hương thơm ngào ngạt. Còn trứng kiến sau khi được lấy về sàng lọc bỏ những tạp chất, sau đó ngâm vào nước ấm sạch để quấy nhẹ, rồi rửa trứng để thật ráo nước. Sau đó, trứng kiến được ướp gia vị rồi được xào cùng với củ kiệu đã được phi hành mỡ gà cho thật thơm, vừa chín tới và dậy mùi thơm hấp dẫn.

    Trứng kiến đặt trong lá chuối và cho vào chõ xôi đã đồ, mùi thơm của trứng kiến kết hợp cùng với mùi thơm của xôi, vị béo ngậy của trứng kiến kèm theo với mỡ hành phi thơm sẽ rất hấp dẫn du khách.

    Người vùng cao Yên Bái thường ăn xôi nếp trứng kiến với cá suối sấy khô nướng than chấm muối ớt trộn chanh…

    Vịt bầu Lâm Thượng có đặc điểm rất dễ nhận biết, đó là lông vằn, mình tròn, chân ngắn, cổ ngắn. Con đực đầu xanh biếc, nặng từ 2 – 2,5 kg, con mái nặng từ 1,8 – 2kg. Da vịt bầu mỏng, vàng như da gà, thịt vịt chắc, thơm ngon, vị ngọt đậm đà.

    Có lẽ do được chăn thả tự nhiên giữa những dòng suối mát lành chảy ra từ dãy núi đá có nhiều hang động tuyệt đẹp còn hoang sơ, ít dấu chân người biết đến, cùng những đồng ruộng tốt tươi màu mỡ, nên bởi vậy, vịt bầu Lâm Thượng có ưu điểm thơm, ngọt, da mỏng; được người dân trong huyện coi là món ngon dùng để thiết đãi khách quý, được khách phương xa luôn tìm thưởng thức mỗi khi có dịp về với đất Lục Yên và trở thành một trong mười sản phẩm đặc sản nổi tiếng của tỉnh.

    Gà trống thiến Lục Yên không giống gà trống thường không những về hình dáng bề ngoài mà còn ở vị thơm ngon. Mỗi con nặng từ 3 – 3,5kg, mã rất đẹp, mào to đỏ chót, bộ lông đỏ tịm mềm mượt, đuôi dài… Thịt gà sau khi luộc có màu vàng óng, rất thơm, khi ăn béo ngậy, mềm nhưng săn chắc, ngọt, da dày và giòn.

    Nếu như trong từ điển ẩm thực phong phú của người Kinh có món mọc được làm từ giò sống và nấm hương thì món Moọc của người Tày cũng có tên tương tự (người Tày phát âm là “Mọoc” với phần âm kéo dài hơi luyến) nhưng với những nguyên liệu khác. Nguyên liệu gồm có : hoa chuối rừng (Mắc pi đông), chọn loại hoa màu tím gần giống chuối nhà, đúng thời kì nở 5, 6 lá ngoài, vừa hết quả gốc đến quả ngọn và nhìn hoa tròn lẳn mới ngon, thiếu đi hoa chuối thì món mọoc sẽ không còn hương vị đặc trưng, thịt lợn ba chỉ loại ngon, cá, tôm (được bắt ở suối, loại nhỏ, khi chế biến không cần bỏ ruột), bột gạo nếp, lá lốt rừng bánh tẻ không sâu, hạt dổi, sả, gừng, muối.

    Hoa chuối đem về thái sợi mỏng, rồi ngâm qua với nước vo gạo hay nước muối loãng, sau đó cho lên bếp đun sôi để giảm bớt nhựa trước khi đem bỏ vào cối giã nhuyễn cùng các nguyên liệu khác. Thịt lợn, cá, tôm cùng các loại gia vị đem giã nhuyễn. Có một điều thú vị nho nhỏ là trong cách chế biến của người Tày cá được bắt ở suối sẽ không mổ ruột mà để nguyên cả con vì theo quan niệm của người Tày, cá, tôm được nuôi ở suối ăn rong rêu, cỏ lá của thần sông nên họ rất quý trọng. Sau đó cho tất cả các nguyên liệu đã qua sơ chế vào trộn đều, thêm chút muối, bột gạo nếp tạo độ kết dính, ta đã có được mọoc sống thành từng nắm nhỏ, gói bằng lá dong và xếp vào chõ xôi. Thời gian xôi khoảng 45 phút, trong khi xôi, lửa phải cháy đều liên tục. Mọoc chín xếp ra nong cho nguội rồi mới bày cỗ.

    Trong bữa ăn, món mọoc được xếp ra đĩa và đặt ở vị trí trung tâm của mâm. Mọoc lúc này đã chuyển sang màu tim tím, dẻo quyện vào nhau như một chất hồ dính. Chấm với nước mắm có hạt dổi, ăn cùng rau sống. Khi thưởng thức, vị bùi bùi của hoa chuối, béo ngậy ngòn ngọt của thịt lợn và tôm cá cộng với vị cay của các loại gia giảm thấm dần vào vị giác của từng người, sẽ cho chúng ta một trả nghiệm rất thú vị về văn hóa ẩm thực độc đáo của người Tày Lục Yên.

    Thịt mắm cơm đỏ của người Tày Lục Yên không cầu kỳ như nhiều món ăn khác, được chế biến đơn giản từ các nguyên liệu mang đậm chất quê của người miền núi, thịt mắm cơm đỏ cho người thưởng thức biết tới một hương vị riêng biệt của món ăn dân tộc.

    Nguyên liệu để làm món ăn này là thịt lợn, lá cơm đỏ, củ giềng, muối, rượu… Để có món mắm thịt ngon, thì thịt lợn phải tươi, thịt nửa nạc nửa mỡ hoặc chọn lấy phần thịt ba chỉ là ngon nhất. Vào những khi nhà có việc hệ trọng, hay khi Tết đến phải mổ lợn, dù to hay bé, người Tày ở Lục Yên thường dành riêng phần thịt ba chỉ để làm thịt mắm cơm đỏ. Sau đó thịt rửa sạch để ráo nước, thái chỉ ướp với muối và rượu (lưu ý phải là rượu nếp cẩm mới ngon). Giềng thái mỏng, lá cơm đỏ rửa sạch vò dập… Tất cả được trộn đều và cho vào chum đậy kín để chỗ thoáng mát tránh ánh nắng mặt trời, sau 30 ngày sẽ có một chum thịt mắm cơm đỏ thành phẩm.

    Để chum mắm thịt cơm đỏ ăn được lâu, sau khi lấy ra ăn cần buộc chặt lại để bảo quản được lâu. Nếu mở ra nhiều chum mắm sẽ cay và không còn vị ngọt. Nếu bảo quản kỹ, món thịt nắm cơm đỏ có thể để được khoảng 5, 6 tháng.

    Người Thái Tây Bắc coi cá là món ăn quý trong đời sống thường ngày hoặc khi có hội. Pa khính Nậm Thia (cá sỉnh suối thia) là đặc sản đầy tự hào của người dân Mường Lò.

    “Pà mẳm” gọi theo tiếng của đồng bào Thái có nghĩa là mắm cá. Pà mẳm có nhiều loại nhưng ngon và quý phải kể đến Pà mẳm cá chép. Món ăn này tuy không cầu kỳ nhưng yêu cầu phải đảm bảo những nguyên tắc chế biến riêng.

    Người Thái có nhiều loại mắm (mẳm), gọi tên theo nguyên liệu dùng để chế biến. Mắm cá chia ra mẳm đí làm bằng cá nhỏ và pà mẳm làm bằng cá to. Mắm làm bằng tôm gọi là mẳm củng hay mẳm manh khẩu san, bằng con quăng (một loại cá nhỏ) là mẳm tắc ten, bằng châu chấu là mẳm hén, bằng những con bọ ở nước là mẳm pá dí, mắm làm theo kiểu người Lào gọi là pà đẹc… Nói chung, cá để làm mắm thường là loại mình dẹt, có vảy, ít khi làm bằng cá mình tròn không vảy.Chỉ bằng cá chép và thính gạo nếp, hạt sẻn, ớt tươi băm nhỏ, xả, riềng, quế chi đồng bào Thái đã chế biến được món ngon đậm đà hương vị.

    Vốn là dòng sông có dòng chảy xiết, sông Chảy có nhiều loại cá bơi giỏi, thịt săn chắc như cá chày, cá bỗng, cá chiên, cá chép, cá trắm… ở cửa các dòng suối lớn đổ vào sông như Ngòi Biệc, Ngòi Tu…, người ta đã từng bắt được những con cá bỗng vài chục kg, cá chày 7 – 8kg bằng đánh cụp, bằng câu, bằng đánh lưới. Cá bỗng có thân gần giống cá trắm, bụng và vây lại giống cá chép, miệng thuôn nhỏ, ăn cả mồi thực vật và động vật. Thịt cá bỗng đặc biệt thơm ngon khi được nướng hoặc rán vàng. Người ta cũng có thể dùng cá bỗng nấu lá tai chua ăn nóng, vị cá đậm đà mà không thấy mùi tanh.

    Những loài cá ăn chìm có cá nheo, cá trạch, cá trê, cá bò, cá ngạnh. Cá trạch rán, cá trê kho với lá gừng. Cá nheo, cá bò nấu ám, hoặc kho với chuối xanh, ăn miếng chuối cứ bùi bùi như thịt cá. Cá ngạnh nấu dưa chua thì cả nồi ngon nhất là nước chan, vị ngọt của thịt cá như tan hòa thấm đậm vào cơ thể người thưởng thức.

    Ăn nổi gần mặt nước có cá mương, cá thầu dầu. Ở hồ Thác Bà khi nước mới dâng một vài năm, cá thầu dầu tụ lại thành đàn đông, hớt một mẻ te (một dụng cụ đánh bắt cá) có khi được cả tạ cá. Cá chỉ nhỏ bằng ngón tay, làm sạch kho khô hoặc đem nấu canh hoa chuối, tra mẻ ngấu. Nước canh sẽ có màu trắng đục như sữa, cá có vị hơi đắng, ăn lạ miệng mà ngon. Cá thiểu gù cắt bỏ đầu, vây, đuôi, làm sạch rồi đưa vào cối xay xay nhuyễn trộn lá thơm sẽ biến thành món chả cá thật ưa dùng.

    Cá được tẩm ướp bằng các loại gia vị như dầu điều, mật khoái, gừng riềng sả ớt, tiêu, tỏi rồi được nướng trên than hồng.

    Thác Bà được ví là một vựa tôm tép và món mắm tép hồ Thác Bà cũng từ đó mà nổi tiếng nức vùng.

    Với món mắm tép này có thể ăn kèm chuối xanh và thịt lợn luộc, khế cùng rau đinh lăng, hoặc có thể đem hấp vào cơm cùng với trứng gà sẽ được một món ăn ngon lành mà là lạ chẳng kém gì đặc sản. Bát mắm tép vô cùng hấp dẫn bởi vị mặn, ngọt, chua chua dịu, và mùi thơm đặc trưng. Ngoài ra, tép còn được kho với quả khế chua hoặc có thể đem hấp vào cơm cùng với trứng gà bạn sẽ được một món ăn ngon lành mà là lạ chẳng kém gì đặc sản. Tép kho ăn với cơm trắng dẻo, người kén ăn cũng không thể bỏ bữa nửa chừng. Mắm tép khi chín ngấu có màu đỏ sậm, rang với thịt lợn băm nhỏ ăn với xôi nếp Tú Lệ thì không biết chán, chỉ ngại no.

    Năm nào cũng vậy, cứ vào tháng tư khi mùa hoa nhãn nở rộ, trên những chùm hoa phủ đầy phấn trắng xuất hiện nhiều chú bọ xít bám dày. Khi đó, người dân khu vực Văn Chấn, Nghĩa Lộ lại bắt đầu chuẩn bị chăm sóc cho mùa quả ngọt mới và lại có thêm một món ngon trên mâm – món bọ xít chiên giòn.

    Theo quan niệm của người dân, bọ xít nhãn là một loại côn trùng không độc hại và bổ cho sức khỏe bởi bọ xít là loại ký sinh sống dựa vào tinh chất của cây nhãn mà nhãn là loại hoa quả có hàm lượng dinh dưỡng cao.

    Có rất nhiều cách hiệu quả để bắt bọ xít. Khi bọ xít còn non, chỉ cần tẩm nước măng chua hơ lên cây nhãn, chúng sẽ tự rơi xuống đất. Người ta dùng chiếc nẹp tre kẹp từng con bỏ vào túi. Với bọ xít già đã mọc cánh, phải dùng lưới mắt nhỏ và dày để bảo vệ hoa và quả nhãn. Sau khi đã buông lưới người ta thường dùng những sào dài rung nhẹ từng chùm hoa, bọ xít thấy động là bay khỏi chùm hoa, rơi liền xuống. Con nào rơi xuống đất phải nhanh tay nhặt liền kẻo chúng bay mất.

    Người dân nơi đây chế biến bọ xít khá đơn giản. Để bọ xít không còn mùi hôi, người ta đem bọ xít ngâm xuống nước vài giờ cho đến khi bọ xít đã chết, bọt khí từ bọ xít bốc lên phủ kín mặt nước, bấy giờ người ta vớt ra, rửa sạch để ráo nước rồi đem sao vàng.

    Bọ xít khi đã được sao vàng không còn mùi hăng hắc đặc trưng nữa mà có mùi rất thơm. Lúc này đem vặt bỏ đầu, cánh, rút ruột rồi đem chiên với dầu hoặc mỡ. Điều đặc biệt là không phải ướp bọ xít với gia vị gì, kể cả mắm, muối, mì chính. Khi ăn, đổ dầu lưng chảo, rồi xúc bọ xít vào rá sắt, nhúng vào dầu sôi một lát, rồi nhấc ra đĩa là xong.

    Với người Kinh, bánh Chưng là biểu tượng cho Tết, cho trái đất vuông tròn đầy đủ, còn với người Mông bánh dày là biểu tượng cho tình yêu, sự thủy chung son sắt của trai gái người Mông, bánh dày còn tượng trưng cho Mặt trăng, Mặt trời – là nguồn gốc sinh ra con người và muôn loài trên Trái đất.

    Theo những già làng người Mông kể lại: Thủa xưa có chàng trai người Mông tên là Nù Plai bị thần Hổ về bản bắt mất người yêu, Plai buồn lắm, chàng đau khổ đến quên ăn quên ngủ và quyết tìm gặp thần Hổ để đòi lại người yêu. Đường núi xa xôi hiểm trở, để đến nơi thần Hổ giam giữ người mình yêu, Plai phải lội qua bao thác ghềnh, vực sâu. Plai đã nghĩ ra cách nấu gạo nếp nặn thành bánh (nay gọi là bánh dày) làm lương thực để đi tìm lại người yêu. Qua bao gian nan khổ ải, Plai đã tìm được nơi ở của thần Hổ. Cảm động trước tình yêu của chàng trai người Mông, thần Hổ đã trả lại người yêu cho chàng. Từ đó, chiếc bánh dày đã trở thành biểu tượng của tình yêu thủy chung đôi lứa của trai gái người Mông. Sự tích về bánh dày biểu tượng cho tình yêu của trai gái Mông đã đi vào cuộc sống, trở thành nét đẹp văn hoá trong cuộc sống của đồng bào.

    Từ lâu chuối đã trở thành cây gần gũi, gắn bó với người Tày Lục Yên, bởi những hữu ích từ cây chuối đem lại. Hiểu và đánh giá đúng vị trí của chuối trong đời sống của mình mà người Tày đã sáng kiến tái hiện sự thanh tao, hấp dẫn của hương vị chuối bằng cách chế biến thành một sản vật ngon – bánh chuối – chứa đựng giá trị tinh thần được truyền đời từ thế hệ này sang thế hệ sau và được dùng làm đồ cúng tế trong những dịp gia đình, dòng họ có việc trọng đại.

    Bánh chuối Lục Yên không đơn thuần chỉ là một món ăn, mà nó còn chứa đựng cả giá trị tinh thần ở trong đó. Nó là hiện thân của tinh thần tiết kiệm, là sự gắn bó và hài hòa cùng với thiên nhiên của bà con nơi đây. Vì thế cho nên, bánh chuối luôn được làm rất cầu kỳ, tỉ mỉ và công phu. Đặc biệt được sử dụng rất nhiều vào những dịp quan trọng như lễ tết hoặc là cúng bái của bà con dân tộc Tày. Vào dịp quan trọng thì bánh chuối là một món không thể thiếu được trên bàn thờ tổ tiên.

    Ở vùng đất Lục Yên tỉnh Yên Bái, củ khoai môn (còn gọi là khoai tím, khoai mán, khoai sọ núi) được đánh giá cao trong văn hóa ẩm thực của đồng bào địa phương. Dù được trồng ở nhiều vùng quê, song khoai môn trồng trên đất Lục Yên lại được đánh giá cao về độ bùi, thơm và có hương vị đậm đà. Cùng dòng với khoai sọ nhưng khoai môn Lục Yên có màu tím lạ mắt từ vỏ đến ruột, hoặc ruột trắng có nhiều chấm nhỏ màu tím rất đẹp mắt

    Cuối tháng Tư, từ thành phố Yên Bái bầu trời nặng nước từ sau tết khiến cả vùng đầy ẩm ướt và nồm nhưng vượt qua đèo Ách, nắng bừng lên làm lòng người rộn rã. Ơ kìa! Hoa nhãn đã nở rộ dọc quốc lộ 32, ong lấy mật mùa này đủ mật ngọt… Với diện tích hàng ngàn ha trồng nhãn, khu vực Văn Chấn, Nghĩa Lộ là địa điểm khá lý tưởng để thưởng thức hương vị mật ong nhãn.

    Yên Bình có giống bưởi Đại Minh ngon nổi tiếng. Từ xa xưa, bưởi này từng được gọi là bưởi tiến vua. Do đặc thù của khí hậu, thổ nhưỡng nên Bưởi Đại Minh trồng ở vùng đất này cho chất lượng quả ngon và ngọt nhất so với các vùng đất khác.

    Cây bưởi Đại Minh thấp, lá tròn, dày, tán rộng. Quả có hình dẹt, nhẵn bóng, trọng lượng từ 0,6kg – 1,4kg, khi quả chín chuyển sang màu vàng, những quả ở cây bưởi già sẽ nhỏ nhẵn hơn, dễ phân biệt với loại bưởi khác. Bưởi Đại Minh ngon có tiếng, từ lâu đã trở thành đặc sản của vùng quê này và là niềm tự hào của người dân Yên Bái. Khi bổ ra, bưởi có mùi thơm thoang thoảng, múi róc, mọng nước. Chỉ cần ăn một múi, cũng cảm nhận được cái vị ngọt mát, thơm dịu của bưởi và vị đậm đà của làng quê.

    – Vị quả: Khi ăn táo mèo Mù Cang Chải sẽ thấy vị hơi chát, ngọt thơn và chua chứ không quá ngọt khát hoặc chát xít như các loại táo mèo khác. Táo có tính chất khá giòn, không mềm xốp. Ăn vào co cảm giác hơi xít răng. Đây cũng chính là công dụng làm trắng răng dễ nhận thấy của táo mèo khi dùng thường xuyên.

    – Hình dáng: Táo mèo Mù Cang Chải có hình tròn, hơi dẹt, khi chính hơi trắng, hồng, mùi thơm. Để chọn quả táo ngon, không nên tham to mà chỉ chọn quả vừa phải, bị sâu cũng chính là đặc điểm nhận dạng táo mèo ngon.

    – Cảm nhận khi cầm vào táo mèo Mù Cang Chải thường khá chắc tay, khi táo héo, quả vẫn săn lại chứ không bị thối nhũn hay mềm, nát như các loại táo khác.

    Thịt trâu gác bếp (hay còn gọi là thịt trâu khô,thịt trâu hun khói,trâu sấy) là món ăn truyền thống mang phong cách ẩm thực của dân tộc Thái. Với hương vị đậm đà và mùi thơm hấp dẫn, thịt trâu Tây Bắc không chỉ là món ngon chiêu đãi gia đình mà còn là món quà độc đáo, ý nghĩa dành tặng người thân, bạn bè trong dịp tết đến, xuân về.

    Có thể nói, làm lạp xưởng (lạp sườn) là bí quyết của người có nghề, vẫn thịt ba chỉ thái nhỏ, bột canh, hạt tiêu, mật ong, đường, rượu trắng…. nhưng cho cái nào trước, cái nào sau, thời gian tẩm ướp là bao nhiêu thì phải học.

    Làm lạp xưởng (lạp sườn) phải cẩn thận chú ý đến thời gian tẩm ướp, chú ý đến khâu củi lửa, không được đun to, không được để tắt bếp trong giai đoạn thịt lên men… nếu không lạp xưởng (lạp sườn) dễ bị chua, nhanh bị ôi, thối sau này.Nhiên liệu để sấy thịt và lạp xưởng (lạp sườn) cũng không đơn giản, phải là than hoa, bã mía, vỏ trấu, lá quế tươi, nếu là củi thì phải là thân cây quế, là thân tươi càng tốt.

    Theo các già làng người Mông xã La Pán Tẩn kể lại, thì từ lâu lắm rồi đã thấy người Mông làm thứ rượu thóc quý này. Rượu thì nhà ai cũng nhiều, nhưng khách phải quý lắm thì người Mông mới mời uống. Mà đã uống thì phải uống bằng bát, uống cho bằng hết rượu trong nhà thì thôi. Chủ nhà “chào cỗ” với khách bằng hai bát rượu, khách cũng phải đáp lễ bằng hai bát. Uống xong mặt cười phơ lớ, rồi bắt tay nhau, rồi lại uống tiếp. Uống cho say đến độ không biết gì nữa, rồi cả chủ lẫn khách ôm nhau nằm ngủ dưới sàn đất trải rơm. Khách quý của người Mông thì phải như thế.

    Rượu La Pán Tẩn (Ảnh sưu tầm)

    Được cái rượu người Mông uống say không bao giờ bị đau đầu như thứ rượu Vodka hay cuốc lủi pha thuốc sâu ở dưới xuôi. Đêm uống say sáng ra người tỉnh táo như vừa trải qua một giấc ngủ. Rượu thóc La Pán Tẩn ngon nổi tiếng đến nỗi hàng năm Tết đến, nhiều người ở dưới Hà Nội kì công phóng cả ô tô lên mua vài chục lít về vừa uống vừa đi tặng. Giá một lít chỉ vào khoảng 30 nghìn đồng, không nhiều, nhưng cũng là một nguồn tăng thu nhập cho người La Pán Tẩn.

    Ai đã từng lên thăm xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, đều không khỏi ngỡ ngàng trước bạt ngàn những cây chè Shan Tuyết cổ thụ to lớn thân nhuộm màu trắng mốc, uốn lượn nhiều cành buộc người hái phải trèo lên mới thu hoạch được. Chè Shan Tuyết cổ thụ có thân cây to bằng vài người ôm, màu trắng mốc, tán cây rộng khoảng 20m², lá màu xanh đậm. Chè cổ thụ nhiều đến nỗi viện sĩ K. M. Djemmukhatze thuộc viện sinh hóa A – Ba – Cu, Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, khi đến Suối Giàng nghiên cứu vào những năm 60 của thế kỷ 20 này phải thốt lên: “Tôi đã đi qua 120 nước có chè trên thế giới, nhưng chưa thấy ở đâu có cây chè lâu năm như ở Suối Giàng, phải chăng đây là cội nguồn của cây chè? Chè ở đây độc đáo, trong bát nước chè xanh có đủ 18 vị đầu đẳng của chè trên thế giới” (lời ghi trong sổ lưu niệm của xã Suối Giàng).

    Thừa hưởng khí hậu núi cao quanh năm mát mẻ, nhiều ngày có mây mù nên chè ở đây búp to, phủ một lớp lông tơ mịn như nhung, trắng như tuyết. Chè Shan Tuyết là loại cây mọc tự nhiên trên vùng núi cao, được nuôi dưỡng bằng sinh khí của đất, trời nên búp và lá chè rất to, có màu xanh đậm, trên mặt lá phủ một lớp lông tơ mỏng trắng như tuyết. Vì vậy mà chè có tên Shan Tuyết (chè được ngậm tuyết trên núi cao).

    Chè Shan Tuyết Suối Giàng xưa nay được xếp hàng “đầu bảng” các loại chè. Mọi người vẫn bảo đây là loại chè “năm cực”. “Cực khổ” – khi trồng và thu hái; “cực sạch” – vì những điều kiện khí hậu, môi trường và cả công chăm giữ của người trồng; “cực hiếm” – vì sản lượng ít (đến nay, dù đã tăng thêm diện tích trồng nhưng mỗi năm nhiều lắm cũng chỉ mới thu hái được chừng 200 tấn chè búp); “cực ngon” – với đủ các phẩm chất đỉnh cao mà mỗi chén trà phải có như hương thơm, vị đậm, nước xanh. Và vì cả bốn “cực” trên nên đương nhiên, có thêm “cực đắt”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Món Ăn Ngon Yên Bái
  • Những Món Ăn Ngon Mang Đậm Hương Vị Xứ Huế
  • Thêm Nhiều Món Ăn Vặt Ngon Ở Khu Kim Liên
  • Top 10 Món Ăn Ngon Vỉa Hè Hà Nội Ngon Số Một Không Thể Bỏ Qua
  • Các Món Ăn Ngon Từ Mộc Nhĩ Phải Thử Làm Ngay
  • 20 Món Ngon Yên Bái + {Gợi Ý} Địa Chỉ Quán Ăn Ngon Ở Yên Bái Nức Tiếng

    --- Bài mới hơn ---

  • Giảm Cân Bằng Yến Mạch Với 10 Món Ăn Ngon Dáng Thon
  • Hướng Dẫn Cách Làm Các Món Ăn Với Bột Yến Mạch 2022
  • Ăn Yến Mạch Đúng Cách Cách Chế Biến Yến Mạch Giảm Cân, Tăng Cân
  • Đến Vĩnh Yên Ăn Gì Uống Gì?
  • Chuyện Ăn Sáng Của Người Vĩnh Yên
  • Địa điểm: 92 Đinh Tiên Hoàng, TP. Yên Bái, Yên Bái.

    Địa điểm: Nhà Hàng Khách Sạn Phố Núi, Tú lệ, Văn Chấn, Yên Bái

    Địa chỉ: Nhà Hàng Tùng Dương, số 19, Tổ 51, Phường Minh Tân, Yên Bái

    Địa chỉ: 185 Nguyễn Thái Học, TP Yên Bái, Yên Bái

    Địa chỉ: Nhà Hàng Cơm Mường Lò, 281 Điện Biên, Tân An, Nghĩa Lộ, Yên Bái

    6.Đùi dê nướng

    Địa chỉ: Quán Tây Bắc – Ẳm Thực Vùng Miền,Thôn 6, xã Hợp Minh, TP Yên Bái

    7.Vịt bầu Lục Yên

    Địa chỉ: Nhà Hàng Hùng Liên, số 2 Nguyễn Hữu Minh, TT. Yên Thế, Lục Yên, Yên Bái

    Địa chỉ: Nhà Hàng Phố Mới, Nguyễn Văn Cừ, P.Đồng Tâm, Tp. Yên Bái, Yên Bái

    Địa chỉ: Nhà Hàng Duyên Qúy, 27 Lê Hồng Phong, P.Nguyễn Thái Học, Thành phố Yên Bái.

    Địa chỉ: Quán Qúy Cá, Khe Sến, Yên Ninh, TP Yên Bái

    11. Bún chả Xuân Nguyệt

    Nước chấm rất đậm đà, những miếng thịt ba chỉ nướng vàng và chả viên thơm ngon. Ngoài ra ăn kèm với nước chấm còn có măng tươi hoặc măng khô cho thêm vào tạo ra sự khách biệt của món bún chả nơi đây.

    Địa chỉ: Quán Xuân Nguyệt, số 1 Đào Tấn, P. Nguyễn Thái Học, TP Yên Bái

    Địa chỉ: 996 Điện Biên Phủ, P. Đồng Tâm, TP Yên Bái

    Địa chỉ: Đường Bao Chợ mường Lò, Tổ 13, P Trung Tâ,m TX. Nghĩa Lộ, TP Yên Bái.

    Địa chỉ: 12B Nguyễn Tất Thành, TP Yên Bái

    15. Lẩu nướng A89

    Địa chỉ: Đại lộ Nguyễn Tất Thành, phường Yên Thịnh, Yên Bái.

    Địa chỉ: Tổ 17 P. Yên Ninh, TP Yên Bái

    Cá hồi tươi sống được chế biến thành đủ loại như gỏi cá hồi, lẩu cá hồi, salad cá hồi…. khiến thực khách tha hồ mà lựa chọn. Đến với nơi đây các bạn sẽ được thưởng thức một bữa ăn thịnh soạn và ngon miệng.

    Địa chỉ: Lô 38 Nguyễn Tất Thành, P.Yên Thịnh, TP Yến Bái.

    Địa chỉ: 936 Điện Biên, TP Yên Bái.

    Địa chỉ: Quán Niêu, Số 2 Ngọ Sỹ Liên, TP Yên Bái.

    20. Bít Tết Ngon – Trần Phú

    Địa chỉ: 103 Trần Phú, TP Yên Bái

    Còn gì tuyệt vời hơn khi vừa đi du lịch ngắm những cảnh đẹp vừa được thưởng thức những món ngon Yên Bái. Cùng xách ba lô lên và du lịch Yên Bái nào các bạn ơi. Những cảnh đẹp và món ăn ngon tại nơi đây đang chờ đón các bạn đến khám phá.

    Phương Hà

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Món Ăn Ngon Ở Yên Bái (Cập Nhật 01/2021)
  • 3 Món Ăn Cực Ngon Biến Tấu Từ Lạp Xưởng
  • Lạp Xưởng Làm Món Gì Ngon Và Hấp Dẫn
  • Tình Yêu Giữa Lạp Xưởng Và Hàng Tá Món Ăn Kết Hợp Siêu Ngon & Dễ Làm
  • 10 Công Thức Món Ăn Tuyệt Ngon Từ Xoài
  • Món Ăn Ngon Yên Bái

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Món Ăn Ngon Ở Yên Bái
  • 8 Món Ăn Ngon Truyền Thống Ngày Tết Bắc, Trung, Nam Dễ Làm
  • Các Món Ăn Ngon Cho Bé Yêu
  • 9 Món Ăn Hàng Đầu Ở New York
  • 15 Món Ăn Tuyệt Ngon Mà Không Lo ‘đau Ví’ Ở New York
  • XÔI NGŨ SẮC

    Xôi ngũ sắc hội tụ được những giá trị truyền thống và hiện đại, mang ý nghĩa về quan niệm vũ trụ, triết lý âm dương và ý nghĩa nhân sinh cao đẹp. Khẩu cắm lanh là cơm xôi màu đỏ tượng trưng cho khát vọng. Khẩu cắm lăm là cơm xôi màu tím tượng trưng cho trái đất trù phú. Khẩu cắm hương là cơm xôi màu vàng tượng cho sự no ấm đầy đủ. Khẩu khiêu là cơm xôi màu xanh tượng trưng cho màu xanh của núi rừng Tây Bắc. Khẩu nón là cơm xôi màu trắng tượng trưng cho tình yêu trong trắng thuỷ chung.

    Để có xôi ngon, thơm dẻo người làm nghề phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy trình từ khâu chọn lá nhuộm màu đến việc đồ xôi. Nguyên liệu để nấu xôi phải là gạo nếp Tú Lệ hạt to, trong, một loại nếp thơm ngon và nổi tiếng nhất vùng. Bốn loại lá rừng dùng để nhuộm các màu xanh – đỏ – tím – vàng được người dân lựa chọn kỹ lưỡng, lá không được quá non hay quá già. Sau đó rửa sạch nấu với nước lấy từ suối nguồn ở xã Tú Lệ. Khi đã có nước màu, gạo nếp được cho vào ngâm khoảng 10 tiếng rồi vớt để ráo nước. Gạo ráo nước sẽ được đồ trong chõ xôi truyền thống của đồng bào gọi là Mỏ Lửng – Tay Lung. Chõ xôi hình bầu dục bằng thân cây cọ hoặc gỗ thơm được gọt đẽo để thủng hai đầu, đầu trên có nắp đậy, đầu dưới lót bằng phên nứa, mỗi chõ xôi được hơn 1kg gạo. Quá trình đồ xôi lửa phải đều, đượm than. Xôi chín dẻo, thơm đậm, dù nóng hay nguội nắm chặt tay cũng không dính.

    Xôi chín được đơm vào đĩa hoặc trình bày theo từng ý tưởng khác nhau với 5 màu xanh – đỏ – tím – vàng – trắng. Năm màu được ghép trên một mâm xôi hình cánh hoa ban thì tượng trưng cho thuyết âm dương Ngũ hành, đồng thời thể hiện khát vọng yêu thương, tình yêu son sắt thuỷ chung, lòng yêu mẹ kính cha của đồng bào dân tộc Thái Tây Bắc.

    LẠP XƯỞNG

    Có thể nói, làm lạp xưởng (lạp sườn) là bí quyết của người có nghề, vẫn thịt ba chỉ thái nhỏ, bột canh, hạt tiêu, mật ong, đường, rượu trắng…. nhưng cho cái nào trước, cái nào sau, thời gian tẩm ướp là bao nhiêu thì phải học. Làm lạp xưởng (lạp sườn) phải cẩn thận chú ý đến thời gian tẩm ướp, chú ý đến khâu củi lửa, không được đun to, không được để tắt bếp trong giai đoạn thịt lên men… nếu không lạp xưởng (lạp sườn) dễ bị chua, nhanh bị ôi, thối sau này.

    Nhiên liệu để sấy thịt và lạp xưởng (lạp sườn) cũng không đơn giản, phải là than hoa, bã mía, vỏ trấu, lá quế tươi, nếu là củi thì phải là thân cây quế, là thân tươi càng tốt. Theo giải thích của người làm nghề lạp xưởng (lạp sườn) thì nhiều người tham rẻ sấy bằng than tổ ong, rất độc hại; củi thì có rất nhiều loại gỗ chứa các chất độc, khói độc áp vào thịt sẽ có hại, nhất là gây đau bụng. Vì thế nhất thiết phải than hoa, hoặc củi quế.

    Chế biến món ăn từ lạp xưởng (lạp sườn) rất đơn giản, chỉ cần rửa cho sạch, thái vát (miếng thái dày 0,3 đến 0,5cm) rồi cho vào rán qua là được.

    MẮC KHÉN

    Mắc khén đứng đầu trong các loại gia vị của đồng bào dân tộc miền núi. Có người gọi Mắc khén là hạt tiêu rừng và khiến ta dễ liên tưởng đến cây hồ tiêu dại mọc trong rừng nhưng không phải. Mắc có nghĩa là quả, còn Khén là một loại cây thân gỗ lớn mọc trong rừng đại ngàn.

    Cây Mắc khén là loại cây dại thuộc họ hồi, có tinh dầu và hương thơm, trở thành huyền thoại và làm nên loại gia vị đậm đà không thể thiếu trong bữa ăn đồng bào miền Tây Bắc. Cây Khén ra hoa vào dịp cuối xuân và đậu thành những chùm quả nhỏ như những chùm hạt rau mùi già. Cuối hè, người ta thu hái Mắc khén bằng cách leo lên cây hái hay dùng câu liêm kéo những cành nhỏ có quả rơi xuống và buộc lại thành chùm đem phơi nắng cho khô hoặc treo lên gác bếp dùng dần. Khi dùng Mắc Khén, người ta bứt một nắm quả cho vào chiếc bát con, chọn lấy một viên than củi đang cháy đượm nhất bỏ vào bát và lắc đều tay để nướng mắc khén. Khi thấy mùi thơm ngào ngạt bay ra thì gắp than ra, khẽ thổi cho bay hết tàn than rồi dùng chuôi dao giã nhỏ hạt Mắc khén thành bột để chế biến đồ chấm hay làm gia vị cho các món ăn.

    MĂNG VẦU CUỐN THỊT

    Măng vầu thuộc họ tre, thân nhỏ không có gai. Mọc ở rừng hoặc trên núi. Hàng năm, cứ đến tháng mười hai, khi mưa xuân lây phây, từ dưới lớp lá hoại mục, măng bắt đầu đội đất nhú lên, lộ hai tai nhỏ xíu xanh thẫm. Măng vầu ngon nhất vào tháng 12 đến khoảng giữa tháng 3, những củ măng to, tròn và rất ngọt. Theo kinh nghiệm của người dân, khi nào có sấm thì măng đắng nhiều hơn, sẽ khó ăn lắm. Hầu như ở khắp các góc chợ miền núi đều có thứ đặc sản này.

    Món măng vầu cuốn thịt không cầu kỳ, phức tạp, chỉ cần mớ rau răm, một quả trứng, thịt ba chỉ và các loại gia vị như muối, bột ngọt… Công đoạn đầu tiên là chọn củ to luộc trên bếp khoảng ba đến năm tiếng cho đỡ he và dễ gọt. Sau khi bỏ hết lớp vỏ già bên ngoài, người ta dùng tay bóc nhẹ lấy lớp lá non. Công đoạn này cũng cần sự khéo léo, nếu lỡ tay để lá bị rách, khi cuốn thịt dễ bị bung ra ngoài. Còn phần củ, dùng dao gọt xung quanh, dài khoảng tám đến mười phân. Nên gọt thật mỏng để tránh bị dai khi ăn.

    Phần nhân thịt thường được dùng thịt ba chỉ vì có cả mỡ lẫn nạc, măng cần có nhiều mỡ để tăng vị thơm ngon. Rau răm băm thật nhỏ, trộn đều với thịt đã xay nhuyễn và trứng, thêm một chút muối và bột nêm. Không để nhân thịt nhiều muối, như vậy măng sẽ đắng hơn, nhất là lúc chấm cùng gia vị sẽ không còn thơm và đúng chất. Xong khâu chuẩn bị thì bắt tay vào cuốn. Những lớp lá non cuốn nhân thịt được xếp trên cùng vì dễ chín. Nên lọc lấy thịt, còn bì để dưới đáy nồi, như vậy sẽ làm măng có nhiều mỡ và không bị cháy. Khi nồi nóng lên, cho thêm một chút nước vào và luôn giữ ngọn lửa vừa phải, đun đến khi măng mềm và chín là có thể lấy ra.

    MĂNG CHUA HÉO

    Măng chua héo (tiếng dân tộc gọi là “nó xổm héo”) là một đặc sản nổi tiếng của đồng bào Tày, Thái ở vùng Tây Bắc nước ta, đặc biệt là ở tỉnh Yên Bái. Đây là món ăn được chế biến đơn giản từ măng tre, bương, giang, nứa, vầu… song măng chua héo mang một vị đậm đà, độc đáo và hoang sơ như chính hương vị của núi rừng Tây Bắc.

    Khi đi rừng hay lên nương, lên rẫy, người dân thường tranh thủ hái thêm một gùi măng tươi non mang về chế biến thành món măng chua héo. Cứ đến cuối thu vào mùa gặt hái thì chế biến măng chua héo sẽ bảo quản được lâu, là nguồn thức ăn dự trữ rất tốt.

    Những chiếc măng trắng và to, có vị he do vừa mới hái, được đem bóc vỏ, rửa sạch thái vát mỏng dọc thớ, dài khoảng 5 đến 6 cm, đem ngâm nước lã trong chum từ 20 đến 25 ngày. Khi lấy ra măng đã thành măng chua, sau đó đem vắt ráo nước và phơi nắng cho khô. Măng càng được nắng thì càng thơm ngon và phơi sương 2-3 lần là được.

    Ngày nay, các món ăn chế biến từ măng chua héo luôn có mặt trong bữa ăn ấm cúng của đồng bào dân tộc Tày, Thái vào những dịp hội họp người thân, bạn bè hay đãi đằng khách quí và luôn được giới thiệu với khách miền xuôi như là một món ngon đặc sản mà núi rừng đã hào phóng ban tặng cho những con người Tây Bắc nồng hậu và mến khách này.

    TRỨNG KIẾN

    Hàng năm, vào cữ tháng ba, khi mặt trời đỏ như hoa dong giềng, người vùng cao Yên Bái lại bảo nhau: “Ầy dà! Đến mùa trứng kiến rồi đấy”. Thế là đàn ông đeo dao lên rừng, không bỏ lỡ dịp may chỉ có một lần trong năm, lấy trứng kiến về cho phụ nữ chế biến thành các món ăn độc đáo thơm ngon bổ dưỡng.

    Loại kiến để lấy trứng dưới xuôi có nơi gọi là con ngạt, nửa dưới thân cứ cong lên rất điệu đà. Tổ kiến có cái to bằng chiếc mũ cối, khi lấy xuống chỉ cần lấy gọng dao gõ nhẹ cho kiến chạy hết rồi tách đôi, vỗ cho trứng kiến rơi ra. Người vùng cao không bao giờ lấy hết trứng để chúng còn sinh sản cho vụ sau. Những hạt trứng kiến to bằng hạt gạo tám xoan, căng mẩy, mầu trắng đục, tỏa hương thơm dịu, mới nhìn đã thấy bắt mắt.

    Xôi trứng kiến

    Ở Yên Bái nhiều dân tộc như: Thái, Dao, Tày… đều rất giỏi trong việc chế biến các món ăn từ trứng kiến. Thông thường là ướp với muối tinh, hạt sẻn, vỏ dổi, các loại lá thơm, gói lá dong nướng than, nấu canh với măng sặt hoặc trộn trứng gà đem rán. Song ấn tượng nhất là xôi nếp trứng kiến. Người vùng cao Yên Bái lựa loại nếp ngon rồi ngâm với các loại lá đã được tuyển lựa qua nhiều đời để nhuộm mầu. Các loại lá này rất lành, không chỉ làm cho xôi có mầu sắc bắt mắt mà còn làm tăng hương vị cho xôi, sau đó dùng lá dong ngăn chõ thành các ô cho không lẫn mầu. Trứng kiến sau khi ướp gia vị gói trong lá dong tươi nướng than để trứng chín mà không bị cháy. Khi xôi chín rắc trứng kiến vào rồi nhẹ tay đảo đều. Đĩa xôi đủ các mầu tươi sáng như núi rừng Tây Bắc rạo rực vào xuân, những hạt trứng kiến điểm xuyết như những hạt mầm ấp ủ những mùa xanh. Hương của nếp quí hòa cùng hương trứng kiến thơm lựng khiến dịch vị của thực khách cứ tứa ra trong một nỗi khát khao được tận hưởng.

    MÓN MỌOC

    Nếu như người Kinh có món mọc được làm từ giò sống và nấm hương, thả vào trong nước ăn cùng bún, mì… thì người Tày cũng có một món ăn với cái tên tương tự mọc (người tày phát âm là “Mọoc” với phần âm kéo dài hơi luyến) nhưng với những nguyên liệu khác. Món ăn này không chỉ có mặt trong các bữa ăn thường ngày mà còn trở thành vị đặc biệt không thể thiếu được trong các cỗ lớn: ngày tết, ngày giỗ, ngày cưới… của người Tày.

    Món Mọoc của người Tày Yên Bái

    Nguyên liệu để làm gồm có : Hoa chuối rừng (Mắc pi đông), chọn loại hoa màu tím gần giống chuối nhà, đúng thời kì nở 5, 6 lá ngoài, vừa hết quả gốc đến quả ngọn và nhìn hoa tròn lẳn mới ngon. Thịt lợn ba chỉ loại ngon cùng cá và tôm. Cá, tôm phải được bắt ở suối, loại nhỏ, khi chế biến không cần bỏ ruột. Bột gạo nếp đóng vai trò kết dính các thành phần lại với nhau. Ngoài ra còn cần các loại gia vị khác: lá lốt rừng (Hoom dăăm đinh), lá bánh tẻ không sâu, hạt dổi, xả, gừng cùng chút muối.

    Cách làm như sau: Hoa chuối thái mỏng ngâm với muối để bớt độ chát, sau đó vắt sạch, thái nhỏ. Thịt lợn, cá, tôm cùng các loại gia vị đem giã nhuyễn. Sau đó cho tất cả các nguyên liệu đã qua sơ chế vào chậu, thêm chút muối, bột gạo nếp vào trộn đều. Như vậy, ta đã có được mọoc sống thành từng nắm nhỏ bằng bát con, gói bằng lá dong và xếp vào chõ xôi. Thời gian xôi khoảng một tiếng, trong khi xôi lửa phải cháy liên tục, lửa đều. Mọoc chín xếp ra nong cho nguội. Lúc này mùi mọoc tỏa ra thật hấp dẫn: mùi cay ngọt ấm áp của gừng, xả, hạt dổi quyện lẫn mùi thơm béo của cá tôm và thịt lợn.

    Trong bữa ăn, món mọoc được xếp ra đĩa và đặt ở vị trí trung tâm của mâm. Mọoc lúc này đã chuyển sang màu tim tím, dẻo quyện vào nhau như một chất hồ dính. Chấm với nước mắm hâm nóng có nêm hạt dổi, ăn ghém cùng rau sống. Khi thưởng thức, vị bùi bùi của hoa chuối, béo ngậy ngòn ngọt của thịt lợn và tôm cá cộng với vị cay ấm áp của các loại gia vị thấm dần vào vị giác của từng người.

    THỊT MẮM CƠM ĐỎ CỦA NGƯỜI TÀY Ở LỤC YÊN (BẲM NỰA MU)

    Không cầu kỳ như nhiều món ăn khác, được chế biến đơn giản từ các nguyên liệu mang đậm chất quê của người miền núi, thịt mắm cơm đỏ của người Tày ở Lục Yên cho người thưởng thức biết tới một hương vị riêng biệt của món ăn dân tộc.

    Nguyên liệu để làm thịt mắm cơm đỏ gồm có rượu nếp cái, củ giềng thái chỉ và một ít rau răm. Nhưng quan trọng nhất là cây cơm đỏ, thịt ba chỉ. Ngày tết, khi mổ một con lợn, dù to hay bé, người Tày ở Lục Yên thường dành riêng phần thịt ba chỉ (thịt bụng) để làm thịt mắm cơm đỏ.

    Để làm thịt mắm cơm đỏ, người ta lấy cây cơm đỏ rửa sạch phơi qua nắng cho ráo nước rồi thái nhỏ. Khi lợn đã mổ ra, tất cả thịt ba chỉ của con lợn được làm sạch, thái nhỏ bằng 2 ngón tay ướp muối. Thịt được đổ vào chum trộn đều với củ giềng thái chỉ, một ít rau răm, cây cơm đỏ và rượu nếp cái thơm rồi buộc thật kín bằng ni lông.

    Chừng 5 đến 6 ngày sau, mở chum mùi thơm đã sực nức, là lúc thịt mắm đã ăn được. Lúc này những miếng thịt mắm đã săn lại có màu đỏ tươi, lớt phớt những sợi giềng thái nhỏ. Gắp miếng thịt mắm lên thưởng thức, ta vừa thấy được vị ngọt, vị chua, vị cay của giềng và hương nồng của nếp cái thơm, ăn không ngấy và ngon đến khó tả. Nếu đậy kín, thịt mắm cơm đỏ có thể để được 5 đến 6 tháng. Nhưng theo kinh nghiệm của người làm lâu năm, nên làm chum vừa phải, một chum chỉ mở một lần rồi đậy kín, lấy ra đến đâu ăn dần hết đến đấy rồi buộc chặt mới bảo quản được, nếu mở ra nhiều sẽ cay và không còn vị ngọt.

    PÀ MẲM

    Pà mẳm gọi theo tiếng của đồng bào Thái có nghĩa là mắm cá. Pà mẳm có nhiều loại nhưng ngon và quý phải kể đến Pà mẳm cá chép. Món ăn này tuy không cầu kỳ nhưng yêu cầu phải đảm bảo những nguyên tắc chế biến riêng. Cá chép dùng để làm Pà mẳm nhất thiết phải là cá chép ruộng hay cá chép ao. Cá bắt về được thả trong bể từ 3 đến 4 ngày cho nhả hết bùn đất, rồi vớt ra chậu khô đổ rượu ngon cùng muối đã rang chín vào và đậy chặt lại. Quá trình giẫy, một lượng muối, rượu sẽ được đưa vào bụng cá, cứ như thể cho đến khi cá chết. Cá được ướp trong vại với rất nhiều gia vị như: thính gạo nếp, hạt sẻn, ớt tươi băm nhỏ, xả, riềng, quế chi… Tất cả các gia vị này đều phải được xào thơm trước khi đem ướp. Qua một ngày, người ta chắt nước trong vại ra đun sôi để nguội rồi lại đổ vào vại cá. Công đoạn này được lặp lại hai lần trong các ngày kế tiếp. Sau ba lần như vậy, người ta bịt kín miệng vại, rồi đem chôn sâu ở nơi khô thoáng. Không giống như nhiều loại Pà mẳm khác, sau 3 năm Pà mẳm cá chép mới được đem dùng.

    Pà mẳm ngon và được xem là đạt yêu cầu là khi mở ra phải có mùi thơm của thính nếp, gia vị và cá được ướp chín bằng rượu, muối và các gia vị cay nóng nên không còn mùi tanh. Cá phải đảm bảo còn nguyên con, thịt màu hồng tươi và dai như cá mực. Pà mẳm có thể được nướng chín hay dùng sống tuỳ thuộc vào sở thích của từng người, nhưng Pa mẳm được đồng bào ưa dùng sống cùng với các loại rau thơm và gia vị của rừng. Trước đây, đồng bào Thái làm Pà mẳm như một cách dự trữ thức ăn qua năm, nhưng cùng với thời gian món ăn này đã trở thành đặc sản mà người Thái chỉ dùng thiết đãi khách quý và bạn bè thân thích những khi nhà có việc lớn, việc vui.

    Mỗi loại pà mẳm lại được chế biến và sử dụng theo những cách khác nhau. Pà mẳm cá tép chỉ dùng để chấm rau, chấm thịt và thời gian cũng không yêu cầu lâu, có thể là một tháng, hai tháng hoặc nhanh là một, hai tuần là dùng được. Ngoài cá chép thì một số loại cá ruộng khác như cá rô phi, cá riếc cũng được đồng bào dùng làm Pà mẳm.

    MẮM TÉP HỒ THÁC BÀ

    Hồ Thác Bà được nhắc đến là một thắng cảnh đẹp của tỉnh Yên Bái. Đây cũng là nơi có trữ lượng thủy sản lớn đem lại nguồn thu nhập cho tỉnh và người dân quanh vùng hồ Thác Bà. Thác Bà được ví là một vựa tôm tép và món mắm tép hồ Thác Bà cũng từ đó mà nổi tiếng nức vùng.

    Với diện tích trải dài từ huyện Yên Bình đến huyện Lục Yên, do vậy các xã nằm bên hồ có lợi thế về đánh bắt thủy sản trong đó có tép. Người dân ở các xã Vĩnh Kiên, Đại Đồng, Phúc An, Yên Thành, Xuân Lai, Mỹ Gia, Cảm Nhân, Tân Hương, Xuân Long, Minh Tiến, Vĩnh Lạc, Tân Lĩnh, Tân Lập, Phan Thanh… đã sớm nhận ra tiềm năng lớn này và họ đã tự chế biến cho mình món mắm tép đầy khoái khẩu với độ đạm cao.

    Với món mắm tép này có thể ăn kèm chuối xanh và thịt lợn luộc, khế cùng rau đinh lăng, hoặc có thể đem hấp vào cơm cùng với trứng gà sẽ được một món ăn ngon lành mà là lạ chẳng kém gì đặc sản.

    BÁNH CHUỐI LỤC YÊN

    Từ lâu chuối đã trở thành cây gần gũi, gắn bó với người Tày Lục Yên, bởi những hữu ích từ cây chuối đem lại. Hiểu và đánh giá đúng vị trí của chuối trong đời sống của mình mà người Tày đã sáng kiến tái hiện sự thanh tao, hấp dẫn của hương vị chuối bằng cách chế biến thành một sản vật ngon – bánh chuối – chứa đựng giá trị tinh thần được truyền đời từ thế hệ này sang thế hệ sau và được dùng làm đồ cúng tế trong những dịp gia đình, dòng họ có việc trọng đại.

    Với bánh chuối, sự hấp dẫn được thể hiện qua những bàn tay khéo léo, tài tình của các bà, các mẹ. Bánh được tạo nên chủ yếu từ chuối và một chút bột gạo mới. Để làm được một chiếc bánh chuối thơm ngon, giữ được hương vị nguyên vẹn của chuối, màu bánh vàng như nhúng mật họ phải chuẩn bị khá công phu từ khi chuối ra nải. Quả chuối chín, đem bóc vỏ, rồi được sấy khô để dành trong những nậm bí khô và được dùng dần trong một năm. Khi làm bánh, chuối sấy khô được đem ngâm nước ấm cho mềm rồi đem đi xay thành bột, bột gạo cũng phải xay bột nước cùng với bột chuối trộn đều làm vỏ bánh. Muốn có bánh thơm, ngọt thì nguyên liệu được chọn là chuối tiêu; muốn bánh có độ dai dẻo, màu sắc sáng thì chọn chuối goòng, chuối lá… tùy theo sở thích, do vậy mà trong những dịp rằm tháng Giêng, hay rằm tháng Bảy thì bánh chuối cũng đa dạng, phong phú chẳng kém gì các đồ dâng cúng tế khác.

    Điều hấp dẫn ở bánh chuối là ngoài nhân có đỗ, lạc và đường còn lại các phụ gia đều từ chuối. Lá gói bánh cũng từ lá chuối trong vườn, dây gói bánh cũng từ dây chuối đúng là chẳng giống với bất kỳ loại bánh nào. Chẳng thế mà bánh chuối rất dễ thưởng thức, vừa ngon vừa lạ, hấp dẫn khách gần xa.

    SƯU TẦM

    Nguyễn Hồng Miên @ 10:15 19/11/2014

    Số lượt xem: 470

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Món Ăn Ngon Mang Đậm Hương Vị Xứ Huế
  • Thêm Nhiều Món Ăn Vặt Ngon Ở Khu Kim Liên
  • Top 10 Món Ăn Ngon Vỉa Hè Hà Nội Ngon Số Một Không Thể Bỏ Qua
  • Các Món Ăn Ngon Từ Mộc Nhĩ Phải Thử Làm Ngay
  • Những Món Ăn Tuyệt Ngon Với Hạt Chia
  • 4 Món Ăn Ngon Ở Yên Bái Nhất Định Phải Thử

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Cách Làm Ốc Xào Me Tại Nhà
  • 3 Cách Nấu Phá Lấu Tuyệt Ngon
  • 30 Món Ngon Nức Lòng Nhất Định Phải Thử Khi Tới Hà Nội (Phần 1)
  • 9 Món Ngon Phải Thử Quanh Khu Người Hoa Ở Sài Gòn
  • Top 8 Quán Ăn Ngon Ở Phố Bùi Thị Xuân
  • Thưởng thức 4 món ăn ngon ở Long An Những món ăn đặc sản nổi tiếng ở Trà Vinh

    Xôi ngũ sắc hội tụ được những giá trị truyền thống và hiện đại, mang ý nghĩa về quan niệm vũ trụ, triết lý âm dương:

    Khẩu cắm lanh là cơm xôi màu đỏ tượng trưng cho khát vọng.

    Khẩu cắm lăm là cơm xôi màu tím tượng trưng cho trái đất trù phú.

    Khẩu cắm hương là cơm xôi màu vàng tượng cho sự no ấm đầy đủ.

    Khẩu khiêu là cơm xôi màu xanh tượng trưng cho màu xanh của núi rừng Tây Bắc.

    Khẩu nón là cơm xôi màu trắng tượng trưng cho tình yêu trong trắng thuỷ chung.

    Để có xôi ngon, thơm dẻo người làm nghề phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy trình từ khâu chọn lá nhuộm màu đến việc đồ xôi.

    Nguyên liệu để nấu xôi phải là gạo nếp Tú Lệ hạt to, trong, một loại nếp thơm ngon và nổi tiếng nhất vùng. Bốn loại lá rừng dùng để nhuộm các màu xanh – đỏ – tím – vàng được người dân lựa chọn kỹ lưỡng, lá không được quá non hay quá già.

    Thịt trâu gác bếp là món ăn đặc sản ở các vùng miền núi Tây Bắc, là món ăn đặc sản của người Thái đen. Cách chế biến món ăn này rất cầu kỳ. Nguyên liệu chính là thịt bắp của những chú trâu rừng mà bà con dân tộc miền núi chăn thả. Sau đó người ta tách từng thớ thịt ra thành từng miếng, tẩm ướp gia vị như ớt, gừng, đặc biệt là mắc khén – một loại hạt tiêu rừng của người dân tộc thiểu số vùng cao Tây Bắc. Và cuối cùng là khâu hun khói.

    Muồm muỗm là một món ăn đặc sản được nhiều du khách yêu thích khi đến Yên Bái du lịch. Để có món muồm muỗn hấp dẫn, bạn phải sơ chế thật kĩ những con muồm muỗn này. Trước hết phải vặt cánh, bẻ chân, ngắt đầu và rút sạch ruột mấy con muồm muỗm này đã. Có rất nhiều cách để chế biến món ăn ngon từ muồm muỗm. Song muồm muỗm rang giòn vẫn là đặc sản được người dân nơi đây ưa chuộng nhất.

    Có thể nói, làm lạp xưởng (lạp sườn) là bí quyết của người có nghề, vẫn thịt ba chỉ thái nhỏ, bột canh, hạt tiêu, mật ong, đường, rượu trắng…. nhưng cho cái nào trước, cái nào sau, thời gian tẩm ướp là bao nhiêu thì phải học. Làm lạp xưởng phải cẩn thận chú ý đến thời gian tẩm ướp, chú ý đến khâu củi lửa, không được đun to, không được để tắt bếp trong giai đoạn thịt lên men.

    Nhiên liệu để sấy thịt và lạp xưởng cũng không đơn giản, phải là than hoa, bã mía, vỏ trấu, lá quế tươi, nếu là củi thì phải là thân cây quế, là thân tươi càng tốt. Theo giải thích của người làm nghề lạp xưởng thì nhiều người tham rẻ sấy bằng than tổ ong, rất độc hại. Củi thì có rất nhiều loại gỗ chứa các chất độc, khói độc áp vào thịt sẽ có hại, nhất là gây đau bụng. Vì thế nhất thiết phải than hoa, hoặc củi quế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ăn Gì Ở Vũng Tàu
  • Top 11 Món Ăn Vặt Ngon, Rẻ Nhất Ở Việt Trì, Phú Thọ 2022
  • Top 7 Quán Ăn Vặt Ngon Nhất Ở Tp. Việt Trì, Phú Thọ
  • Lạc Trôi Với 30 Món Ăn Ngon Đà Nẵng Mà Bạn Không Thể Bỏ Lỡ (Phần 2)
  • Trải Nghiệm Ngay Top 10 Món Ăn Sáng Ngon Ở Biên Hòa Không Được Bỏ Qua
  • Các Món Ăn Ngon Ở Yên Bái (Cập Nhật 01/2021)

    --- Bài mới hơn ---

  • 20 Món Ngon Yên Bái + {Gợi Ý} Địa Chỉ Quán Ăn Ngon Ở Yên Bái Nức Tiếng
  • Giảm Cân Bằng Yến Mạch Với 10 Món Ăn Ngon Dáng Thon
  • Hướng Dẫn Cách Làm Các Món Ăn Với Bột Yến Mạch 2022
  • Ăn Yến Mạch Đúng Cách Cách Chế Biến Yến Mạch Giảm Cân, Tăng Cân
  • Đến Vĩnh Yên Ăn Gì Uống Gì?
  • Các món ăn ngon ở Yên Bái

    Cùng Phượt – Yên Bái là một trong những tỉnh thành Tây Bắc có nhiều thắng cảnh đẹp, thu hút được rất nhiều khách du lịch. Mảnh đất Yên Bái không chỉ sở hữu thiên nhiên tươi đẹp, nên thơ mà còn có nét văn hóa ẩm thực rất đặc sắc, thú vị. Các món ăn ngon ở Yên Bái khá đa dạng và phong phú, ở phía Tây Yên Bái là cái nôi văn hóa cộng đồng của người Thái trong đó ẩm thực người Thái là một trong những điều các bạn không nên bỏ lỡ. Đối với người Tày ở Yên Bái thì lại khác, nét ăn uống của họ khá đơn giản, món ăn ưa thích của họ vẫn là những sản vật của núi rừng: rau măng, cá suối, chim thú, rêu suối… và được chế biến hoàn toàn đơn giản chứ không cầu kỳ như người Thái. Đến với mỗi vùng khác nhau ở Yên Bái, các bạn lại có cơ hội được trải nghiệm những nét văn hóa, ẩm thực này.

    “Nếp Tú Lệ, tẻ Mường Lò” câu ca dao của dân tộc Thái ấy từ lâu không chỉ được truyền tụng khắp vùng Tây Bắc, mà hương vị độc đáo của giống gạo quý ấy còn bay xa khắp mọi vùng đất nước. Đặc biệt là nếp Tan Lả Tú Lệ (Văn Chấn). Vậy đâu là những nét đặc trưng của giống nếp quí ấy, để rồi ai đã một lần có duyên may được thưởng thức cứ nhớ mãi hương vị đậm đà thơm dịu đầy sức quyến rũ, nhớ mãi một vùng đất, một vùng người.

    Với những du khách đã từng đến Tú Lệ được thưởng thức các món ăn được chế biến từ gạo nếp Tú Lệ như: Cốm, cháo cốm vịt, xôi nếp ngũ sắc, cơm lam… được các cô gái Thái thổi hồn, nhấp chén rượu nếp Tú lệ do những đôi tay ngà mời lâng lâng trong tiếng “Khắp mời lẩu” – Hát mời rượu, say trong điệu xoè nồng hậu mới thấm hơn cái hồn của xứ Thái và ý nghĩa sâu xa của câu ca:

    “Mường Lò gạo trắng nước trong

    Ai đi đến đó lòng không muốn về”

    Xôi ngũ sắc hội tụ được những giá trị truyền thống và hiện đại, mang ý nghĩa về quan niệm vũ trụ, triết lý âm dương và ý nghĩa nhân sinh cao đẹp. Khẩu cắm lanh là cơm xôi màu đỏ tượng trưng cho khát vọng. Khẩu cắm lăm là cơm xôi màu tím tượng trưng cho trái đất trù phú. Khẩu cắm hương là cơm xôi màu vàng tượng cho sự no ấm đầy đủ. Khẩu khiêu là cơm xôi màu xanh tượng trưng cho màu xanh của núi rừng Tây Bắc. Khẩu nón là cơm xôi màu trắng tượng trưng cho tình yêu trong trắng thuỷ chung.

    Để có xôi ngon, thơm dẻo người làm nghề phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy trình từ khâu chọn lá nhuộm màu đến việc đồ xôi. Nguyên liệu để nấu xôi phải là gạo nếp Tú Lệ hạt to, trong, một loại nếp thơm ngon và nổi tiếng nhất vùng. Bốn loại lá rừng dùng để nhuộm các màu xanh – đỏ – tím – vàng được người dân lựa chọn kỹ lưỡng, lá không được quá non hay quá già. Sau đó rửa sạch nấu với nước lấy từ suối nguồn ở xã Tú Lệ. Khi đã có nước màu, gạo nếp được cho vào ngâm khoảng 10 tiếng rồi vớt để ráo nước. Gạo ráo nước sẽ được đồ trong chõ xôi truyền thống của đồng bào gọi là Mỏ Lửng – Tay Lung. Chõ xôi hình bầu dục bằng thân cây cọ hoặc gỗ thơm được gọt đẽo để thủng hai đầu, đầu trên có nắp đậy, đầu dưới lót bằng phên nứa, mỗi chõ xôi được hơn 1kg gạo. Quá trình đồ xôi lửa phải đều, đượm than. Xôi chín dẻo, thơm đậm, dù nóng hay nguội nắm chặt tay cũng không dính.

    Xôi chín được đơm vào đĩa hoặc trình bày theo từng ý tưởng khác nhau với 5 màu. Năm màu được ghép trên một mâm xôi hình cánh hoa ban thì tượng trưng cho thuyết âm dương Ngũ hành, đồng thời thể hiện khát vọng yêu thương, tình yêu son sắt thuỷ chung, lòng yêu mẹ kính cha của đồng bào dân tộc Thái Tây Bắc.

    Mắc khén đứng đầu trong các loại gia vị của đồng bào dân tộc miền núi. Có người gọi Mắc khén là hạt tiêu rừng và khiến ta dễ liên tưởng đến cây hồ tiêu dại mọc trong rừng nhưng không phải. Mắc có nghĩa là quả, còn Khén là một loại cây thân gỗ lớn mọc trong rừng đại ngàn.

    Mắc khén thông dụng nhất dùng để chấm xôi nếp nương, thu hoạch từ cánh đồng Tú Lệ, dưới chân đèo Khau Phạ, thì chắc chắn không có hương vị nào sánh bằng. Loại gia vị này còn dùng để tẩm ướp, mang lại cho các món ăn của người Thái những hương vị đặc biệt mà không đâu sánh bằng.

    Có rất nhiều cách để chế biến món ăn ngon từ muồm muỗm. Song muồm muỗm rang giòn vẫn là đặc sản được người dân nơi đây ưa chuộng nhất. Để có món đặc sản muồm muỗm rang giòn thơm ngon, trước tiên phải sơ chế muồm muỗm. “Vặt cánh, bẻ chân, ngắt đầu, rút ruột” là 4 khâu cơ bản để tạo nên hình hài một chú muồm muỗm trên bàn nhậu. Phần còn lại của muồm muỗm sau khi được làm sạch trông cứ kỳ kỳ, nần nẫn chẳng khác gì cái kén của tằm dâu. Xong khâu “làm lông”, muồm muỗm được rửa sạch, để ráo nước rồi cho vào chảo.

    Đầu tiên, muồm muỗm được om với nước măng chua (hoặc giấm gạo) trên bếp lửa liu riu. Cạn nước, cho ngay mỡ (hoặc dầu ăn) vào, đảo đều tay trên bếp to lửa; khi nào nghe tiếng nổ lách tách tức là muồm muỗm đã chín giòn, cho bột canh (hoặc nước mắm, hạt nêm…) vừa đủ cùng với mì chính, một chút ớt tươi và đảo nhanh tay; cuối cùng, cho lá chanh thái chỉ nhỏ vào, đảo đều chín tới lá chanh là bắc chảo ra được. Muồm muỗm rang chín có màu vàng sậm, rất thơm.

    Tháng 7 âm lịch khi nhãn Mường Lò chín rộ, mùa bọ xít nhãn đã hết, những cơn mưa rào tự nhiên bỗng nhẹ đi và kéo dài ra để bước vào tháng ngâu, cỏ non bắt đầu nhú lên cũng là lúc những con dế trở nên mập mạp, bóng bẩy, béo ngậy và món dế trở thành món chủ đạo trong các quán. Người ta bắt dế bằng nhiều cách và không mấy khó khăn như đào hang, đổ nước; tối đến trẻ em bắt dế quanh các cột đèn cao áp tại các tuyến phố Nghĩa Lộ. Ở đây bắt dế không khó và vùng Mường Lò dế rất nhiều nên giá dế ở chợ Mường Lò cũng không đắt, khoảng 5 đến 7 nghìn đồng một lạng; một lạng dế được cả đĩa cho 2 người ăn.

    Trước tiên, đầu bếp dùng kéo cắt bỏ những cái chân có phần gai sắc nhọn, tiếp đó là rút phần ruột và bỏ túi hôi ở gáy; thao tác này làm phải khéo để dế còn nguyên con. Tiếp đó, người ta rửa dế bằng nước sôi hoặc nước măng chua. Sau đó, đem ướp với nước mắm, tiêu, hành, tỏi, bột ngọt cho thấm rồi bắt đầu chiên trên chảo mỡ đang sôi. Đợi đến khi dế chín vàng rụm mới vớt ra cho vào đĩa, rắc lên một ít lá chanh thái chỉ. Nếu thích dế lăn bột thì cho thêm bột chiên vào, trộn đều trước khi chiên.

    Điều đặc biệt khi chiên dế chỉ cho một lượng dầu ăn vừa phải. Bởi lẽ bản thân con dế đã chứa rất nhiều dầu, nếu cho quá tay dầu ăn sẽ tạo cảm giác béo rất nhanh ngấy. Khi chiên, hạn chế tối đa việc đảo đi đảo lại tránh làm gẫy càng và thân dế mà chỉ nên dùng tay hất đều chảo với lửa vừa phải.

    Dế sau khi chiên xong có màu vàng ruộm và mùi thơm đặc trưng của các loại gia vị hòa quyện vào nhau. Bạn có thể rưới thêm nước ớt hoặc nước măng chua tăng phần đậm đà cho món ăn. Một đĩa đặc sản dế mèn đã bày ra trước mắt mùi thơm lừng. Ăn phần đầu hay phần đùi thì giòn tan, phần bụng thì dai dai, bùi bùi. Dế chiên giòn có thể ăn kèm cùng cóc xanh, xoài xanh, dưa chuột, chanh… tạo cảm giác ngon miệng, đồng thời giảm độ béo ngậy. Dế mèn dùng để nhắm bia hay nhắm rượu đều tuyệt.

    Bánh được đồng bào dân tộc Thái nơi đây làm ra với ý nghĩa thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời. Món bánh đặc sản này không thể thiếu trên mâm cỗ cúng tổ tiên, trời đất mỗi khi xuân về.

    Nguyên liệu làm bánh của đồng bào được chọn lựa kỹ càng: lá dong bánh tẻ, khổ vừa phải, rửa sạch, lau khô. Gạo nếp được chọn phải là nếp Tú Lệ thơm ngon, nhân đỗ xanh hoặc đỗ nho nhe đãi sạch vỏ, không lẫn sạn. Thịt lợn ngon nhất là thịt ba chỉ, nhiều mỡ một chút, thái mỏng, ướp với gia vị, hạt tiêu, hành củ. Để tạo màu đen cho chiếc bánh, đồng bào lấy thân cây núc nác tước vỏ, hoặc hoa cây vừng đen đốt thành than, giã mịn như bột, trộn lẫn với gạo nếp, đảo đều cho đến khi gạo quyện với bột than thành màu đen.

    Bánh chưng đen phải được gói thủ công. Củi để luộc bánh phải là củi gỗ to, giữ than tốt, khi luộc xếp bánh vào nồi, đậy kín vung. Lúc nồi bánh chưa sôi thì đun to lửa, khi nồi bánh đã sôi giữ lửa đều, đủ nhiệt để bánh chín nhuyễn, chín đều, đun từ 6-7 tiếng. Khi chín vớt ra cho vào chậu nước rửa qua và treo bánh thành từng cặp để cho bánh không bị mốc. Thưởng thức một miếng bánh, cảm nhận được hương vị thật đặc biệt, vị thơm của nếp, vị ngọt, béo của thịt lợn vùng cao, vị ngậy bùi của nhân đỗ xanh, vị là lạ của cây rừng.

    Bánh chưng đen của người Thái được cha truyền, con nối qua nhiều thế hệ. Tết đến, ăn miếng bánh chưng đen, mùi gạo quyện với than núc nác, hoa cây vừng đen, vị ngọt làm người ăn như thưởng thức được cả mùi cỏ cây, ruộng đồng, đất trời và thiên nhiên nơi miền Tây Yên Bái.

    Rau dớn, (đồng bào dân tộc Thái gọi là phác pút) thuộc họ quyết, lớn hơn cây dương xỉ, có cành dài, lá nhỏ xòe trên đầu cây như tán một chiếc ô rộng lớn. Rau dớn không có ở đồng bằng, chỉ có ở vùng núi – nơi bờ suối, bờ khe, dưới các tán rừng thấp nơi có độ ẩm ướt cao. Đối với nhiều tộc người, rau dớn là “vua” loại rau, nó chẳng những giúp cải thiện chất lượng bữa ăn hằng ngày mà còn là món đặc sản để đãi khách trong các lễ hội. Mỗi lần tổ chức lễ hội của gia đình hay cộng đồng, người ta tranh thủ vào rừng hái rau dớn để chế biến thức ăn. Vì loại rau này nhanh bị dập nát nên người ta hái đến đâu ăn đến đó, bảo đảm rau luôn tươi xanh, chất lượng.

    Đây là món rau dễ chế biến nhất, có thể xào, luộc, nấu canh, muối chua, làm nộm … Người ta hái rau dớn tươi về, chọn phần mềm tươi non, rửa sạch bùn đất, bụi bám, sau đó trụng sơ qua nước sôi và vớt ra để ráo. Dầu thực vật là loại thích hợp nhất để xào rau dớn.

    Ngoài ra rau dớn còn chế biến được các món ăn độc đáo khác như: rau xôi, rau dớn xào cùng nước măng chua, lá đu đủ, cà rãnh hay rau dớn luộc… Có thể với những vị khách muốn ăn dớn rừng với hương vị nguyên thuỷ của nó thì chỉ cần nhặt những ngọn non tơ mỡ màng, rửa sạch cho vào nồi nước thật sôi, khi vừa chín tới vớt ra cho rau không bị nhừ. Đĩa rau luộc chấm với chén nước mắm thật ngon, cho thêm vài ánh tỏi giã dập, vài lát ớt là cũng đủ hấp dẫn.

    Từ nguyên liệu tôm nõm, thịt lợn thăn, dầu thực vật và các loại gia vị của vùng Mường Lò cùng với kinh nghiệm truyền thống của đồng bào Tây bắc đã tạo nên hương vị đặc trưng của sản phẩm ruốc Tôm.

    Món này khi ăn kèm với sôi ngũ sắc, cơm lam bạn sẽ thật ấn tượng bởi sự đậm đà của ruốc tôm hoà quyện với hương vị dẻo thơm của nếp Tú Lệ. Ruốc tôm là một món ăn tưởng chừng như rất đơn giản và dễ làm nhưng không phải ai làm theo công thức đó cũng ngon. Mỗi người, mỗi vùng miền đều có những bí quyết riêng tạo nên sự khác biệt trong hương vị của từng món ăn. Ghé thăm miền Tây Yên Bái, nơi có những bàn tay khéo léo đã chế biến món ăn này từ những nguyên liệu hết sức gần gũi để mang lại đầy đủ vị ngon đến với người thưởng thức.

    Nguyên liệu để làm món ruốc tôm gồm: Tôm nõn (tôm suối) bóc vỏ, thịt lợn (nạc vai), dầu thực vật, gia vị. Tôm chọn con mình mẩy, to đều, rửa sạch bóc vỏ, bỏ chỉ đen trên lưng và phần đầu tôm. Cho tôm vào cối giã nhỏ. Thịt lợn băm nhỏ. Sau đó cho dầu vào chảo rang thịt chín kỹ rồi cho tôm giã nhỏ vào đảo đều, cho gia vị thêm vài giọt nước mắm cho ruốc tôm thêm đậm đà. Khi rang để lửa thật nhỏ, liu riu để tôm và thịt chín đều đến khi vừa khô là được. Sau khi sao khô để nguội là có thể ăn được.

    Sau khi làm sạch rêu, người Thái thường trộn hạt sẻn, hạt dổi, hạt mắc khén (những thứ hạt tiêu rừng thú vị) cùng ớt, tỏi, gừng, củ xả, lá chanh, rồi thêm ít thịt mỡ. Dùng lá dong được rửa sạch để gói rêu và gia vị, buộc lạt tre túm hai đầu, bẻ quặt hai mép lá lại thành cái hình khum khum treo trên một thanh nẹp tre. Đem tất cả vùi vào trong tro ấm. Không than, không lửa, cũng không hơ khói. Bao giờ lá dong cháy tý tách, thì lôi thanh tre ra, hơ cả gói rêu nướng trên than hoa.

    Lá rong cháy đến lớp trong cùng, mỡ và nước xanh thơm mát của rêu suối rỉ ra, thì bày ra đĩa. Khi ăn, mở gói lá dong ra, mùi mắc khén, hạt sẻn và mấy chục thứ gia vị cùng ngạt ngào, riêng có rêu vẫn mát lịm, thanh tao. Món rêu nướng (khay/”cay pho”) vừa quyến rũ với nghệ thuật thứ thiệt của gia vị ẩm thực Thái, lại vừa giữ được cái mát lành, thơm thảo, dịu dàng của vị rêu suối. Món “cay pỉnh” còn thú vị hơn: đem nguyên liệu rêu và gia vị gói bằng lá lốt hoặc lá chanh. Kẹp các gói nhỏ trên thanh tre tươi trẻ đôi, nướng giòn. Rêu chín, cho vào rán với mỡ lợn.

    Rêu suối nhiều, nhưng rêu ngon thì ít. Và cái mùa rêu ăn được, ăn thứ thiệt được lại càng ngắn ngủi. Nên bà con vùng cao (những nơi có tục ăn rêu) quý rêu lắm. Khách quý thì mới đãi rêu khô trên gác bếp. Rêu thường được tổ chức ăn vào bữa cơm tối, khi đại gia đình đông đủ. Cô dâu Thái thường coi dành túm rêu nướng cho mẹ chồng những mong tròn vẹn hơn cái đạo dâu con.

    Trước đây, cây măng sặt mọc tự nhiên trên vùng đồi của huyện Trạm Tấu, huyện Văn Chấn nhưng nhiều nhất là ở thị xã Nghĩa Lộ. Trước đây, măng sặt không có nhiều do mọc tự nhiên không có sự chăm sóc. Nhưng khi nhận thấy nhu cầu ẩm thực của người dân và nhiều du khách ở các nơi khác đến với các huyện vùng cao của tỉnh Yên Bái rất ưa thích món măng sặt thì người Dao, Thái đã biết quy hoạch những vùng có măng trên các khu rừng già thành vùng riêng, được chăm sóc nên măng cũng phát triển tốt hơn, mập hơn và ngon hơn.

    Măng sặt không phải trồng ở vùng nào cũng ngon. Có lẽ Yên Bái là mảnh đất có thổ nhưỡng và khí hậu hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cây măng. Chẳng thế mà măng sặt Yên Bái đã trở thành món ăn được nhiều thực khách sành ăn bình chọn là món măng ngon và hấp dẫn nhất.

    Măng vầu thuộc họ tre, thân nhỏ không có gai. Mọc ở rừng hoặc trên núi. Hàng năm, cứ đến tháng mười hai, khi mưa xuân lây phây, từ dưới lớp lá hoại mục, măng bắt đầu đội đất nhú lên, lộ hai tai nhỏ xíu xanh thẫm. Măng vầu ngon nhất vào tháng 12 đến khoảng giữa tháng 3, những củ măng to, tròn và rất ngọt. Theo kinh nghiệm của người dân, khi nào có sấm thì măng đắng nhiều hơn, sẽ khó ăn lắm. Hầu như ở khắp các góc chợ miền núi đều có thứ đặc sản này.

    Món măng vầu cuốn thịt không cầu kỳ, phức tạp, chỉ cần mớ rau răm, một quả trứng, thịt ba chỉ và các loại gia vị như muối, bột ngọt… Công đoạn đầu tiên là chọn củ to luộc trên bếp khoảng ba đến năm tiếng cho đỡ he và dễ gọt. Sau khi bỏ hết lớp vỏ già bên ngoài, người ta dùng tay bóc nhẹ lấy lớp lá non. Công đoạn này cũng cần sự khéo léo, nếu lỡ tay để lá bị rách, khi cuốn thịt dễ bị bung ra ngoài. Còn phần củ, dùng dao gọt xung quanh, dài khoảng tám đến mười phân. Nên gọt thật mỏng để tránh bị dai khi ăn

    Phần nhân thịt thường được dùng thịt ba chỉ vì có cả mỡ lẫn nạc, măng cần có nhiều mỡ để tăng vị thơm ngon. Rau răm băm thật nhỏ, trộn đều với thịt đã xay nhuyễn và trứng, thêm một chút muối và bột nêm. Không để nhân thịt nhiều muối, như vậy măng sẽ đắng hơn, nhất là lúc chấm cùng gia vị sẽ không còn thơm và đúng chất. Xong khâu chuẩn bị thì bắt tay vào cuốn. Những lớp lá non cuốn nhân thịt được xếp trên cùng vì dễ chín. Nên lọc lấy thịt, còn bì để dưới đáy nồi, như vậy sẽ làm măng có nhiều mỡ và không bị cháy. Khi nồi nóng lên, cho thêm một chút nước vào và luôn giữ ngọn lửa vừa phải, đun đến khi măng mềm và chín là có thể lấy ra.

    Măng chua héo (tiếng dân tộc gọi là “nó xổm héo”) là một đặc sản nổi tiếng của đồng bào Tày, Thái ở vùng Tây Bắc nước ta, đặc biệt là ở tỉnh Yên Bái. Đây là món ăn được chế biến đơn giản từ măng tre, bương, giang, nứa, vầu… song măng chua héo mang một vị đậm đà, độc đáo và hoang sơ như chính hương vị của núi rừng Tây Bắc.

    Khi đi rừng hay lên nương, lên rẫy, người dân thường tranh thủ hái thêm một gùi măng tươi non mang về chế biến thành món măng chua héo. Cứ đến cuối thu vào mùa gặt hái thì chế biến măng chua héo sẽ bảo quản được lâu, là nguồn thức ăn dự trữ rất tốt.

    Những chiếc măng trắng và to, có vị he do vừa mới hái, được đem bóc vỏ, rửa sạch thái vát mỏng dọc thớ, dài khoảng 5 đến 6 cm, đem ngâm nước lã trong chum từ 20 đến 25 ngày. Khi lấy ra măng đã thành măng chua, sau đó đem vắt ráo nước và phơi nắng cho khô. Măng càng được nắng thì càng thơm ngon và phơi sương 2-3 lần là được.

    Ngày nay, các món ăn chế biến từ măng chua héo luôn có mặt trong bữa ăn ấm cúng của đồng bào dân tộc Tày, Thái vào những dịp hội họp người thân, bạn bè hay đãi đằng khách quí và luôn được giới thiệu với khách miền xuôi như là một món ngon đặc sản mà núi rừng đã hào phóng ban tặng cho những con người Tây Bắc nồng hậu và mến khách này.

    Xôi trứng kiến Mù Cang Chải

    Linh hồn của món xôi trứng kiến đó chính là trứng kiến đen và gạo nếp nương của Mù Cang Chải. Khi tiết trời sang xuân ấm áp là lúc loài kiến ở Mù Cang Chải sinh sôi và phát triển mạnh. Đây là thời điểm vàng để bà con có thể lấy trứng kiến về làm xôi. Để lấy được nguyên liệu trứng kiến thì phải lấy vào những ngày nắng ráo nếu không trứng kiến thấm nước mưa sẽ ăn không ngon.

    Vịt bầu Lục Yên thịt chắc, thơm ngon, nhân dân thường làm các món ăn như vịt luộc, quay, nướng, hấp cách thủy và làm mọc. Theo thói quen ở địa phương đã mổ vịt là không thể thiếu 2 món là bát tiết canh và đĩa mọc. Vịt bầu ngon nhất là chế biến món hấp, để giữ được hương vị ngọt, đậm đà của vịt thì khi mổ cũng phải mổ moi. Ngoài ra, vịt còn có thể chế biến các món luộc, om mẻ, hay om măng cũng rất ngon.

    Gà trống thiến Lục Yên không giống gà trống thường không những về hình dáng bề ngoài mà còn ở vị thơm ngon. Mỗi con nặng từ 3 – 3,5kg, mã rất đẹp, mào to đỏ chót, bộ lông đỏ tịm mềm mượt, đuôi dài… Thịt gà sau khi luộc có màu vàng óng, rất thơm, khi ăn béo ngậy, mềm nhưng săn chắc, ngọt, da dày và giòn.

    Nếu như người Kinh có món mọc được làm từ giò sống và nấm hương, thả vào trong nước ăn cùng bún, mì… thì người Tày cũng có một món ăn với cái tên tương tự mọc (người tày phát âm là “Mọoc” với phần âm kéo dài hơi luyến) nhưng với những nguyên liệu khác. Món ăn này không chỉ có mặt trong các bữa ăn thường ngày mà còn trở thành vị đặc biệt không thể thiếu được trong các cỗ lớn: ngày tết, ngày giỗ, ngày cưới… của người Tày.

    Nguyên liệu để làm gồm có : Hoa chuối rừng (Mắc pi đông), chọn loại hoa màu tím gần giống chuối nhà, đúng thời kì nở 5, 6 lá ngoài, vừa hết quả gốc đến quả ngọn và nhìn hoa tròn lẳn mới ngon. Thịt lợn ba chỉ loại ngon cùng cá và tôm. Cá, tôm phải được bắt ở suối, loại nhỏ, khi chế biến không cần bỏ ruột. Bột gạo nếp đóng vai trò kết dính các thành phần lại với nhau. Ngoài ra còn cần các loại gia vị khác: lá lốt rừng (Hoom dăăm đinh), lá bánh tẻ không sâu, hạt dổi, xả, gừng cùng chút muối.

    Cách làm như sau: Hoa chuối thái mỏng ngâm với muối để bớt độ chát, sau đó vắt sạch, thái nhỏ. Thịt lợn, cá, tôm cùng các loại gia vị đem giã nhuyễn. Sau đó cho tất cả các nguyên liệu đã qua sơ chế vào chậu, thêm chút muối, bột gạo nếp vào trộn đều. Như vậy, ta đã có được mọoc sống thành từng nắm nhỏ bằng bát con, gói bằng lá dong và xếp vào chõ xôi. Thời gian xôi khoảng một tiếng, trong khi xôi lửa phải cháy liên tục, lửa đều. Mọoc chín xếp ra nong cho nguội. Lúc này mùi mọoc tỏa ra thật hấp dẫn: mùi cay ngọt ấm áp của gừng, xả, hạt dổi quyện lẫn mùi thơm béo của cá tôm và thịt lợn.

    Trong bữa ăn, món mọoc được xếp ra đĩa và đặt ở vị trí trung tâm của mâm. Mọoc lúc này đã chuyển sang màu tim tím, dẻo quyện vào nhau như một chất hồ dính. Chấm với nước mắm hâm nóng có nêm hạt dổi, ăn ghém cùng rau sống. Khi thưởng thức, vị bùi bùi của hoa chuối, béo ngậy ngòn ngọt của thịt lợn và tôm cá cộng với vị cay ấm áp của các loại gia vị thấm dần vào vị giác của từng người.

    Thịt mắm cơm đỏ người Tày

    Không cầu kỳ như nhiều món ăn khác, được chế biến đơn giản từ các nguyên liệu mang đậm chất quê của người miền núi, thịt mắm cơm đỏ của người Tày ở Lục Yên cho người thưởng thức biết tới một hương vị riêng biệt của món ăn dân tộc.

    Nguyên liệu để làm thịt mắm cơm đỏ gồm có rượu nếp cái, củ giềng thái chỉ và một ít rau răm. Nhưng quan trọng nhất là cây cơm đỏ, thịt ba chỉ. Ngày tết, khi mổ một con lợn, dù to hay bé, người Tày ở Lục Yên thường dành riêng phần thịt ba chỉ (thịt bụng) để làm thịt mắm cơm đỏ.

    Để làm thịt mắm cơm đỏ, người ta lấy cây cơm đỏ rửa sạch phơi qua nắng cho ráo nước rồi thái nhỏ. Khi lợn đã mổ ra, tất cả thịt ba chỉ của con lợn được làm sạch, thái nhỏ bằng 2 ngón tay ướp muối. Thịt được đổ vào chum trộn đều với củ giềng thái chỉ, một ít rau răm, cây cơm đỏ và rượu nếp cái thơm rồi buộc thật kín bằng ni lông.

    Chừng 5 đến 6 ngày sau, mở chum mùi thơm đã sực nức, là lúc thịt mắm đã ăn được. Lúc này những miếng thịt mắm đã săn lại có màu đỏ tươi, lớt phớt những sợi giềng thái nhỏ. Gắp miếng thịt mắm lên thưởng thức, ta vừa thấy được vị ngọt, vị chua, vị cay của giềng và hương nồng của nếp cái thơm, ăn không ngấy và ngon đến khó tả. Nếu đậy kín, thị mắm cơm đỏ có thể để được 5 đến 6 tháng. Nhưng theo kinh nghiệm của người làm lâu năm, nên làm chum vừa phải, một chum chỉ mở một lần rồi đậy kín, lấy ra đến đâu ăn dần hết đến đấy rồi buộc chặt mới bảo quản được, nếu mở ra nhiều sẽ cay và không còn vị ngọt.

    Mường Lò còn có dòng Thia trong lành, mà khơi nguồn của nó từ Nậm Hát trên độ cao gần 700m ở Trạm Tấu chảy về. Nậm Thia còn nổi tiếng bởi loài cá quý: cá sỉnh, một loài cá chỉ ăn rêu đá, đã thành món ăn đặc sản hấp dẫn ở nơi này.

    Cá sỉnh trông gần giống loài cá trôi Ấn Độ nhỏ, điều khác biệt ở chỗ nó có môi đen xanh và dầy. Loài cá này về mùa sinh đẻ thường ngược về nguồn (giống như cá Hồi ở biển) đẻ trứng sinh nở bảo toàn nòi giống. Nhờ dòng nước xiết đã đẩy lũ cá con dạt về nơi dòng chảy yếu hơn để lớn lên, điều này khẳng định cá sỉnh có nhiều ở dòng Thia là thế. Để bắt được cá sỉnh không phải điều dễ dàng, bởi đây là loài cá rất khoẻ, thích sống nơi nước chảy xiết, sợ tiếng động lạ…

    Những con cá sỉnh thon đỏ, có bộ lườn săn chắc béo ngậy, được chế biến để tiếp khách quý và bè bạn với nhiều món ăn truyền thống. Đơn giản nhất là món “Pa Kính Pỉnh”, là cá sỉnh tươi thoa muối kẹp bằng gắp tre nướng trên than hồng, khi nào mỡ cá xèo xèo bốc mùi ngầy ngậy trên than, cá vàng đều, mang xuống chấm với muối, chanh, hạt sẻn, gừng. Cầu kì hơn người Thái còn làm món “Pa móôc” để đãi khách. Cá được bỏ ruột, cạo vẩy, dùng gia vị như: hạt sẻn, ớt, muối, tỏi, gừng tía… giã nhỏ nhồi vào bụng cá, dùng lạt nhỏ buộc kín lại. Toàn bộ cá được bọc trong lá chuối rừng non bằng nhiều lớp, rồi vùi trong tro nóng bên bếp lửa nhà sàn. Ngoài ra, người Thái còn dùng cá sỉnh để làm các món Pa mẳm (cá mắm), Pa Khính xổm (cá chua), Pa Khính giảng (cá sấy gác bếp)… để ăn dần trong năm, thậm chí trong lễ cưới hỏi của người Thái đen thì cá sỉnh còn được coi là một trong những lễ vật chính của nhà trai đem dẫn cưới.

    Pà mẳm gọi theo tiếng của đồng bào Thái có nghĩa là mắm cá. Pà mẳm có nhiều loại nhưng ngon và quý phải kể đến Pà mẳm cá chép. Món ăn này tuy không cầu kỳ nhưng yêu cầu phải đảm bảo những nguyên tắc chế biến riêng. Cá chép dùng để làm Pà mẳm nhất thiết phải là cá chép ruộng hay cá chép ao. Cá bắt về được thả trong bể từ 3 đến 4 ngày cho nhả hết bùn đất, rồi vớt ra chậu khô đổ rượu ngon cùng muối đã rang chín vào và đậy chặt lại. Quá trình giẫy, một lượng muối, rượu sẽ được đưa vào bụng cá, cứ như thể cho đến khi cá chết. Cá được ướp trong vại với rất nhiều gia vị như: thính gạo nếp, hạt sẻn, ớt tươi băm nhỏ, xả, riềng, quế chi… Tất cả các gia vị này đều phải được xào thơm trước khi đem ướp. Qua một ngày, người ta chắt nước trong vại ra đun sôi để nguội rồi lại đổ vào vại cá. Công đoạn này được lặp lại hai lần trong các ngày kế tiếp. Sau ba lần như vậy, người ta bịt kín miệng vại, rồi đem chôn sâu ở nơi khô thoáng. Không giống như nhiều loại Pà mẳm khác, sau 3 năm Pà mẳm cá chép mới được đem dùng.

    Pà mẳm ngon và được xem là đạt yêu cầu là khi mở ra phải có mùi thơm của thính nếp, gia vị và cá được ướp chín bằng rượu, muối và các gia vị cay nóng nên không còn mùi tanh. Cá phải đảm bảo còn nguyên con, thịt màu hồng tươi và dai như cá mực. Pà mẳm có thể được nướng chín hay dùng sống tuỳ thuộc vào sở thích của từng người, nhưng Pa mẳm được đồng bào ưa dùng sống cùng với các loại rau thơm và gia vị của rừng. Trước đây, đồng bào Thái làm Pà mẳm như một cách dự trữ thức ăn qua năm, nhưng cùng với thời gian món ăn này đã trở thành đặc sản mà người Thái chỉ dùng thiết đãi khách quý và bạn bè thân thích những khi nhà có việc lớn, việc vui.

    Mỗi loại pà mẳm lại được chế biến và sử dụng theo những cách khác nhau. Pà mẳm cá tép chỉ dùng để chấm rau, chấm thịt và thời gian cũng không yêu cầu lâu, có thể là một tháng, hai tháng hoặc nhanh là một, hai tuần là dùng được. Ngoài cá chép thì một số loại cá ruộng khác như cá rô phi, cá riếc cũng được đồng bào dùng làm Pà mẳm.

    Hồ Thác Bà với sản lượng thủy sản hàng nghìn tấn mỗi năm, hành trình khám phá hồ Thác Bà các bạn không thể bỏ qua món ngon được chế biến từ các loại cá. Những con cá tươi với đủ các loại cân nặng để lựa chọn được người dân đánh bắt hàng ngày ngay trên lòng hồ qua bàn tay chế biến của người dân bản địa đã tạo thành những hương vị rất riêng cho du lịch hồ Thác Bà.

    Cá được tẩm ướp bằng các loại gia vị như dầu điều, mật khoái, gừng riềng sả ớt, tiêu, tỏi rồi được nướng trên than hồng.

    Hồ Thác Bà được nhắc đến là một thắng cảnh đẹp của tỉnh Yên Bái. Đây cũng là nơi có trữ lượng thủy sản lớn đem lại nguồn thu nhập cho tỉnh và người dân quanh vùng hồ Thác Bà. Thác Bà được ví là một vựa tôm tép và món mắm tép hồ Thác Bà cũng từ đó mà nổi tiếng nức vùng.

    Với diện tích trải dài từ huyện Yên Bình đến huyện Lục Yên, do vậy các xã nằm bên hồ có lợi thế về đánh bắt thủy sản trong đó có tép. Người dân ở các xã Vĩnh Kiên, Đại Đồng, Phúc An, Yên Thành, Xuân Lai, Mỹ Gia, Cảm Nhân, Tân Hương, Xuân Long, Minh Tiến, Vĩnh Lạc, Tân Lĩnh, Tân Lập, Phan Thanh… đã sớm nhận ra tiềm năng lớn này và họ đã tự chế biến cho mình món mắm tép đầy khoái khẩu với độ đạm cao.

    Với món mắm tép này có thể ăn kèm chuối xanh và thịt lợn luộc, khế cùng rau đinh lăng, hoặc có thể đem hấp vào cơm cùng với trứng gà sẽ được một món ăn ngon lành mà là lạ chẳng kém gì đặc sản.

    Năm nào cũng vậy, cứ vào tháng tư khi mùa hoa nhãn nở rộ, trên những chùm hoa phủ đầy phấn trắng xuất hiện nhiều chú bọ xít bám dày. Khi đó, người dân khu vực Văn Chấn, Nghĩa Lộ lại bắt đầu chuẩn bị chăm sóc cho mùa quả ngọt mới và lại có thêm một món ngon trên mâm – món bọ xít chiên giòn.

    Người dân nơi đây chế biến bọ xít khá đơn giản. Để bọ xít không còn mùi hôi, người ta đem bọ xít ngâm xuống nước vài giờ cho đến khi bọ xít đã chết, bọt khí từ bọ xít bốc lên phủ kín mặt nước, bấy giờ người ta vớt ra, rửa sạch để ráo nước rồi đem sao vàng.

    Bọ xít khi đã được sao vàng không còn mùi hăng hắc đặc trưng nữa mà có mùi rất thơm. Lúc này đem vặt bỏ đầu, cánh, rút ruột rồi đem chiên với dầu hoặc mỡ. Điều đặc biệt là không phải ướp bọ xít với gia vị gì, kể cả mắm, muối, mì chính. Khi ăn, đổ dầu lưng chảo, rồi xúc bọ xít vào rá sắt, nhúng vào dầu sôi một lát, rồi nhấc ra đĩa là xong. Gia vị duy nhất ăn với bọ xít là lá chanh thái chỉ và một chút nước cốt chanh. Bản thân con bọ xít đã mang đủ các vị cay, mặn, ngọt, bùi…

    Bánh dày người Mông, Trạm Tấu

    Bánh dày tiếng Mông gọi là Pá. Theo quan niệm của người Mông bánh dày là biểu tượng của mặt trăng, mặt trời, tượng trưng cho sự sinh sôi, nảy nở của vũ trụ bao la. Bên cạnh đó chiếc bánh còn là biểu tượng của sự trong trắng, lòng chung thủy, son sắc của người phụ nữ Mông như một vòng tròn khép kín. Người Mông thường làm bánh dày vào dịp tết và các lễ hội. Dâng lên bàn thờ tổ tiên để bày tỏ lòng thành kính của mình, với ước mong các đấng linh thiêng phù hộ cho đôi chân to khỏe, để có thể vượt núi, chèo đèo, phát nương làm rẫy. Phù hộ cho mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Khi thưởng thức người ta cắt thành từng lát bánh, sau đó đem dán bằng mỡ lợn. Chiếc bánh được dán phồng lên, cũng là lúc mùi thơm của gạo nếp nương, hòa quyện mùi thơm dịu của trứng gà, mùi ngậy béo của mỡ lợn lan tảo khắp gian bếp nhỏ, tạo nên một món ăn vô cùng hấp dẫn.

    Từ lâu chuối đã trở thành cây gần gũi, gắn bó với người Tày Lục Yên, bởi những hữu ích từ cây chuối đem lại. Hiểu và đánh giá đúng vị trí của chuối trong đời sống của mình mà người Tày đã sáng kiến tái hiện sự thanh tao, hấp dẫn của hương vị chuối bằng cách chế biến thành một sản vật ngon – bánh chuối – chứa đựng giá trị tinh thần được truyền đời từ thế hệ này sang thế hệ sau và được dùng làm đồ cúng tế trong những dịp gia đình, dòng họ có việc trọng đại.

    Với bánh chuối, sự hấp dẫn được thể hiện qua những bàn tay khéo léo, tài tình của các bà, các mẹ. Bánh được tạo nên chủ yếu từ chuối và một chút bột gạo mới. Để làm được một chiếc bánh chuối thơm ngon, giữ được hương vị nguyên vẹn của chuối, màu bánh vàng như nhúng mật họ phải chuẩn bị khá công phu từ khi chuối ra nải. Quả chuối chín, đem bóc vỏ, rồi được sấy khô để giành trong những nậm bí khô và được dùng dần trong một năm. Khi làm bánh, chuối sấy khô được đem ngâm nước ấm cho mềm rồi đem đi xay thành bột, bột gạo cũng phải xay bột nước cùng với bột chuối trộn đều làm vỏ bánh. Muốn có bánh thơm, ngọt thì nguyên liệu được chọn là chuối tiêu; muốn bánh có độ dai dẻo, màu sắc sáng thì chọn chuối goòng, chuối lá… tùy theo sở thích, do vậy mà trong những dịp rằm tháng Giêng, hay rằm tháng Bảy thì bánh chuối cũng đa dạng, phong phú chẳng kém gì các đồ dâng cúng tế khác.

    Điều hấp dẫn ở bánh chuối là ngoài nhân có đỗ, lạc và đường còn lại các phụ gia đều từ chuối. Lá gói bánh cũng từ lá chuối trong vườn, dây gói bánh cũng từ dây chuối đúng là chẳng giống với bất kỳ loại bánh nào. Chẳng thế mà bánh chuối rất dễ thưởng thức, vừa ngon vừa lạ, hấp dẫn khách gần xa.

    Đặc sản Yên Bái mua về làm quà

    Cuối tháng Tư, từ thành phố Yên Bái bầu trời nặng nước từ sau tết khiến cả vùng đầy ẩm ướt và nồm nhưng vượt qua đèo Ách, nắng bừng lên làm lòng người rộn rã. Ơ kìa! Hoa nhãn đã nở rộ dọc quốc lộ 32, ong lấy mật mùa này đủ mật ngọt… Với diện tích hàng ngàn ha trồng nhãn, khu vực Văn Chấn, Nghĩa Lộ là địa điểm khá lý tưởng để thưởng thức hương vị mật ong nhãn.

    Yên Bình có giống bưởi Đại Minh ngon nổi tiếng. Từ xa xưa, bưởi này từng được gọi là bưởi tiến vua. Do đặc thù của khí hậu, thổ nhưỡng nên Bưởi Đại Minh trồng ở vùng đất này cho chất lượng quả ngon và ngọt nhất so với các vùng đất khác.

    Cây bưởi Đại Minh thấp, lá tròn, dày, tán rộng. Quả có hình dẹt, nhẵn bóng, trọng lượng từ 0,6kg – 1,4kg, khi quả chín chuyển sang màu vàng, những quả ở cây bưởi già sẽ nhỏ nhẵn hơn, dễ phân biệt với loại bưởi khác. Bưởi Đại Minh ngon có tiếng, từ lâu đã trở thành đặc sản của vùng quê này và là niềm tự hào của người dân Yên Bái. Khi bổ ra, bưởi có mùi thơm thoang thoảng, múi róc, mọng nước.

    Vùng núi miền Tây Yên Bái không chỉ nổi tiếng với tầng tầng, lớp lớp ruộng bậc thang đã được xếp hạng danh thắng quốc gia, với những trò chơi dân gian đậm đà bản sắc dân tộc, những điệu xòe của những cô gái Thái, những điệu khèn của các chàng trai Mông hay chè Shan tuyết suối Giàng sóng sánh, mà nơi đây còn nổi tiếng với một loại quả rừng vừa mang hương vị đậm đà vừa là vị thuốc quý cho sức khỏe đó chính là Sơn tra (tên gọi khác là quả Táo mèo).

    Sơn tra là một loài cây rất khoẻ, phát triển tự nhiên trên những cánh rừng, cũng có thể sống ở khe núi, nơi khô hạn, thiếu đất, cành có nhiều gai sắc, chiều cao trung bình 7 – 10m, thân gỗ, tán lá rộng. Sơn tra ra hoa vào cuối mùa xuân (tháng 3 – 4) và cho thu hái quả vào mùa thu. Tháng 9, tháng 10 là tháng quả sơn tra chín rộ. Những quả sơn tra ngon là những quả nhỏ, có mầu hồng trắng hoặc vàng trong, hơi dẹt, khi gọt không có cảm giác sít tay, khi ăn táo có vị ngọt, giòn, hơi chua và chan chát (vì vậy có nơi còn gọi là quả chua chát) với mùi thơm hấp dẫn.

    Vùng trồng quế của huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái vốn được hình thành từ lâu đời, gắn liền với cuộc sống của đồng bào người Dao. Do vậy, kinh nghiệm trồng quế từ kỹ thuật chọn giống, cách trồng, phương pháp chăm sóc, thu hoạch cho tới bảo quản cũng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Dao. Giống quế ở đây được cho là giống quế tốt nhất Việt Nam, có hàm lượng tinh dầu cao thứ 2 ở Việt Nam (sau quế Trà My)

    Có thể nói, làm lạp xưởng (lạp sườn) là bí quyết của người có nghề, vẫn thịt ba chỉ thái nhỏ, bột canh, hạt tiêu, mật ong, đường, rượu trắng…. nhưng cho cái nào trước, cái nào sau, thời gian tẩm ướp là bao nhiêu thì phải học. Làm lạp xưởng (lạp sườn) phải cẩn thận chú ý đến thời gian tẩm ướp, chú ý đến khâu củi lửa, không được đun to, không được để tắt bếp trong giai đoạn thịt lên men… nếu không lạp xưởng (lạp sườn) dễ bị chua, nhanh bị ôi, thối sau này.

    Nhiên liệu để sấy thịt và lạp xưởng (lạp sườn) cũng không đơn giản, phải là than hoa, bã mía, vỏ trấu, lá quế tươi, nếu là củi thì phải là thân cây quế, là thân tươi càng tốt. Theo giải thích của người làm nghề lạp xưởng (lạp sườn) thì nhiều người tham rẻ sấy bằng than tổ ong, rất độc hại; củi thì có rất nhiều loại gỗ chứa các chất độc, khói độc áp vào thịt sẽ có hại, nhất là gây đau bụng. Vì thế nhất thiết phải than hoa, hoặc củi quế.

    Chế biến món ăn từ lạp xưởng (lạp sườn) rất đơn giản, chỉ cần rửa cho sạch, thái vát (miếng thái dày 0,3 đến 0,5cm) rồi cho vào rán qua là được.

    Xã La Pán Tẩn nằm cách thị trấn Mù Cang Chải tầm 26km, muốn đến phải đi xe dọc quốc lộ 32 nằm cheo leo ngang sườn núi đến ngã ba Kim, rồi từ đó lại ngoặt vào thêm tầm 7km đường núi nữa thì mới vào được trung tâm xã. Đây là một trong những địa danh đã được xếp hạng danh thắng quốc gia về ruộng bậc thang. Đến đây, vừa để chiêm ngưỡng cảnh đẹp thiên nhiên, vừa để thưởng thức một loại rượu thơm ngon có tiếng của đồng bào dân tộc Mông nơi đây – đặc sản rượu thóc.

    Muốn có được loại rượu thành phẩm ngon thì ngoài việc lựa chọn được loại thóc nương ngon (nguyên liệu chính để nấu rượu) còn phải có thêm một số các nguyên liệu không thể thiếu khác là men lá gia truyền và nước nguồn tinh khiết lấy từ trong các khe núi đá mang về. Hiện tại, quá trình sản xuất rượu thóc của người Mông xã La Pán Tẩn vẫn hoàn toàn tuân thủ theo phương pháp cổ truyền. Tức là, thóc nương sau khi được làm sạch sẽ không xát mà để nguyên vỏ trấu cho vào chảo gang luộc trên bếp lửa từ 2 đến 3 giờ đồng hồ. Khi thóc đã chín sẽ được múc ra cho nguội hẳn rồi rắc men lá trộn đều bỏ vào các thùng. Khoảng hai ba ngày sau, khi các thứ trong thùng chứa bắt đầu lên men thì lại tiếp tục công đoạn ủ từ 7 đến 8 ngày rồi mới cho vào chưng cất thành rượu.

    Chè Shan Tuyết Suối Giàng

    Ai đã từng lên thăm xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn đều không khỏi ngỡ ngàng trước bạt ngàn những cây chè cổ thụ. Ngay từ những năm 60, thống kê có tới gần 40.000 cây chè Shan cổ thụ có từ 200 tuổi, đến 300 tuổi, còn những cây hàng trăm tuổi trở xuống thì nhiều không kể xiết.

    Tìm trên Google:

    Giống chè Shan tuyết càng già, thân càng trắng mốc, tạo hình uốn lượn xù xì, lá càng xanh ngắt một vẻ đẹp tự nhiên là điều thích thú cho những ai ham thích tự nhiên. Chè Shan tuyết cổ thụ Suối Giàng xưa nay được xem là một trong những thức uống thơm ngon bậc nhất so với sản phẩm từ tất cả các vùng chè trên cả nước. Các gốc chè ở đây có thâm niên hơn 300 tuổi, thân to, có cây đường kính lên đến hàng mét, lá và búp chè to khác hẳn với các loại chè khác. Búp có màu trắng xám, nhìn giống như có một lớp phấn hoặc lông như bông tuyết nên người dân gọi là chè tuyết – giống chè shan lưu niên hội tụ cả ba yếu tố hương thơm, vị đậm, nước xanh. Điều đặc biệt là, từ khi thu hoạch đến khi chế biến đều dựa vào phần lớn phương pháp thủ công của người Mông nơi đây.

    • các món ăn ngon ở Yên Bái
    • đặc sản Yên Bái làm quà
    • ăn gì khi du lịch Yên Bái
    • các quán ăn ngon ở Yên Bái
    • đến Yên Bái nên ăn gì
    • địa điểm ăn uống Yên Bái
    • ẩm thực Yên Bái
    • món ăn vặt Yên Bái
    • các món ăn vỉa hè ở Yên Bái
    • mua gì ở Yên Bái
    • Yên Bái có gì ngon

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Món Ăn Cực Ngon Biến Tấu Từ Lạp Xưởng
  • Lạp Xưởng Làm Món Gì Ngon Và Hấp Dẫn
  • Tình Yêu Giữa Lạp Xưởng Và Hàng Tá Món Ăn Kết Hợp Siêu Ngon & Dễ Làm
  • 10 Công Thức Món Ăn Tuyệt Ngon Từ Xoài
  • Một Số Món Ăn Ngon Từ Xoài
  • Món Đặc Sản Măng Sặt Nghĩa Lộ Ở Yên Bái

    --- Bài mới hơn ---

  • Hấp Dẫn Măng Sặt Văn Bàn
  • Nấu Món Ngon Tại Nhà Từ Măng Trúc Chưa Bao Giờ Dễ Như Thế
  • Măng Trúc Ngâm Dấm Dễ Làm Tại Nhà
  • Giải Đáp Thắc Mắc Măng Tây Xanh Làm Món Gì Sẽ Ngon
  • Bào Ngư Bao Nhiêu 1Kg, Làm Món Gì Ngon?
  • Gần đây, một số nhà hàng miền xuôi biết tiếng măng sặt Nghĩa Lộ cũng cho xe lên gom măng sặt chở về xuôi, chế biến thành nhiều món ăn ngon làm hài lòng thực khách.

    Cơn mưa cuối xuân ào ạt tưới tắm cho cây cối, ruộng đồng. Rừng sặt (cây thuộc loại tre, thân nhỏ rất thẳng) Nghĩa Lộ, Yên Bái, như bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài: tươi tắn và sung sức. Đất rừng trở nên ẩm mềm và xốp. Chỉ vài ngày sau, măng sặt đồng loạt bật dậy tua tủa. Măng sặt Nghĩa Lộ đã vào mùa.

    Măng sặt chỉ to cỡ chuôi liềm, trắng nõn, mềm và ngọt, rất dễ chế biến, ăn không biết chán.

    – Măng ninh sườn: Măng bóc vỏ rồi đập dập, ninh với sườn lợn, cà chua và tỏi, thêm một chút hành, mùi thì bao giờ măng cũng hết trước sườn, bữa sau lại mua măng thả vào ninh tiếp, lạ thay măng vẫn cứ “chạy” hơn sườn.

    – Măng xào: Măng bóc rồi thái vát mỏng, xào với lòng gà, lòng vịt hoặc thịt bò. Xen với vài lát cà rốt và ớt tươi, mâm cơm đã có đĩa xào đẹp mắt và ngon miệng.

    – Măng luộc: Đó là khi măng đã rộ, bạn có thể chuẩn bị một bát mắm tôm, chanh ớt để chấm măng sặt luộc. Nhìn măng trắng nõn, mập mạp xếp trên đĩa, ta chỉ muốn ăn thỏa thích.

    – Măng nướng: Măng sặt nướng trên bếp lửa ngọt thơm lạ kỳ, nướng đến đâu, bóc vỏ cháy sém, ăn nóng với mắm tôm ớt rất thú vị.

    – Măng rán: Măng sặt luộc chín, đen rán vàng rồi om với thịt vịt và tỏi, ăn nóng với hạt tiêu, hành, mùi rất lạ miệng.

    – Măng cay: Măng sặt chẻ nhỏ, ngâm với dấm ớt, ớt phải nhiều và cay, đóng lọ ăn dần cũng rất đưa cơm và ngon miệng.

    Gần đây, một số nhà hàng miền xuôi biết tiếng măng sặt Nghĩa Lộ cũng cho xe lên gom măng sặt chở về xuôi, chế biến thành nhiều món ăn ngon làm hài lòng thực khách.

    Cùng Danh Mục:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Măng Ớt Giòn Đều, Cay Ngon Ngay Tại Nhà
  • Cách Làm Chân Giò Heo Hầm Măng Tươi Ăn Với Bún Ngon Tuyệt Vời
  • Cách Làm Măng Tây Luộc Vừa Xanh Vừa Giòn Không Phải Ai Cũng Biết
  • Măng Le Rừng Khô Loại Đặc Biệt Mua Làm Quà Biếu
  • Măng Le, Đặc Sản Tuyệt Ngon Của Tây Nguyên
  • Đặc Sản Và Các Món Ăn Ngon Tại Yên Bái

    --- Bài mới hơn ---

  • Giảm Cân Hiệu Quả Bằng Món Ăn Ngon Lành Từ Yến Mạch
  • Tham Khảo Thực Đơn Đủ Món Hấp Dẫn ‘vỗ Béo’ Cho Chồng Tăng 17Kg Của Cô Vợ Việt Ở Pháp
  • Cách Chế Biến Món Ăn Ngon Hàng Ngày Cho Trẻ Mầm Non
  • 3 Món Ăn Bổ Dưỡng Giúp Bà Bầu Ngon Miệng, An Thai
  • Tổng Hợp 7 Món Ngon Mỗi Ngày Cho Bà Bầu Khỏe Mạnh Ưa Chuộng Nhất
  • “Nếp Tú Lệ, tẻ Mường Lò” câu ca dao của dân tộc Thái ấy từ lâu không chỉ được truyền tụng khắp vùng Tây Bắc, mà hương vị độc đáo của giống gạo quý ấy còn bay xa khắp mọi vùng đất nước. Đặc biệt là nếp Tan Lả Tú Lệ (Văn Chấn – Yên Bái). Vậy đâu là những nét đặc trưng của giống nếp quí ấy, để rồi ai đã một lần có duyên may được thưởng thức cứ nhớ mãi hương vị đậm đà thơm dịu đầy sức quyến rũ, nhớ mãi một vùng đất, một vùng người.

    Với những du khách đã từng đến Tú Lệ được thưởng thức các món ăn được chế biến từ gạo nếp Tú Lệ như: Cốm, cháo cốm vịt, xôi nếp ngũ sắc, cơm lam… được các cô gái Thái thổi hồn, nhấp chén rượu nếp Tú lệ do những đôi tay ngà mời lâng lâng trong tiếng “Khắp mời lẩu” – Hát mời rượu, say trong điệu xoè nồng hậu mới thấm hơn cái hồn của xứ Thái và ý nghĩa sâu xa của câu ca:

    Để có xôi ngon, thơm dẻo người làm nghề phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy trình từ khâu chọn lá nhuộm màu đến việc đồ xôi. Nguyên liệu để nấu xôi phải là gạo nếp Tú Lệ hạt to, trong, một loại nếp thơm ngon và nổi tiếng nhất vùng. Bốn loại lá rừng dùng để nhuộm các màu xanh – đỏ – tím – vàng được người dân lựa chọn kỹ lưỡng, lá không được quá non hay quá già. Sau đó rửa sạch nấu với nước lấy từ suối nguồn ở xã Tú Lệ. Khi đã có nước màu, gạo nếp được cho vào ngâm khoảng 10 tiếng rồi vớt để ráo nước. Gạo ráo nước sẽ được đồ trong chõ xôi truyền thống của đồng bào gọi là Mỏ Lửng – Tay Lung. Chõ xôi hình bầu dục bằng thân cây cọ hoặc gỗ thơm được gọt đẽo để thủng hai đầu, đầu trên có nắp đậy, đầu dưới lót bằng phên nứa, mỗi chõ xôi được hơn 1kg gạo. Quá trình đồ xôi lửa phải đều, đượm than. Xôi chín dẻo, thơm đậm, dù nóng hay nguội nắm chặt tay cũng không dính.

    Xôi chín được đơm vào đĩa hoặc trình bày theo từng ý tưởng khác nhau với 5 màu xanh – đỏ – tím – vàng – trắng. Năm màu được ghép trên một mâm xôi hình cánh hoa ban thì tượng trưng cho thuyết âm dương Ngũ hành, đồng thời thể hiện khát vọng yêu thương, tình yêu son sắt thuỷ chung, lòng yêu mẹ kính cha của đồng bào dân tộc Thái Tây Bắc.

    Táo mèo, vị thuốc cho sức khỏe

    Sơn tra là một loài cây rất khoẻ, phát triển tự nhiên trên những cánh rừng, cũng có thể sống ở khe núi, nơi khô hạn, thiếu đất, cành có nhiều gai sắc, chiều cao trung bình 7 – 10m, thân gỗ, tán lá rộng. Sơn tra ra hoa vào cuối mùa xuân (tháng 3 – 4) và cho thu hái quả vào mùa thu. Tháng 9, tháng 10 là tháng quả sơn tra chín rộ. Những quả sơn tra ngon là những quả nhỏ, có mầu hồng trắng hoặc vàng trong, hơi dẹt, khi gọt không có cảm giác sít tay, khi ăn táo có vị ngọt, giòn, hơi chua và chan chát (vì vậy có nơi còn gọi là quả chua chát) với mùi thơm hấp dẫn.

    Sơn tra có thể làm thành nhiều món ngon như: ô mai sơn tra, rượu sơn tra, nước giải khát từ quả Sơn tra ngâm đường, v.v… Đặc biệt hơn loại quả này còn có tính năng kỳ diệu trong y học. Đối với đông y sơn tra có vị chua hơi chát, ngọt dịu, có tính ấm là một vị thuốc quý có tác dụng tiêu thực, chữa đầy bụng: dùng sơn tra khô 30g, sắc lấy nước uống thay trà trong ngày, uống 2 – 3 ngày. Chữa gan nhiễm mỡ: Mỗi ngày ăn 5-7 quả sơn tra, hoặc dùng 10-15 quả sắc nước uống. Sơn tra còn có tác dụng chữa ợ chua, cầm tiêu chảy, tiểu đường, giúp hạ mỡ máu, giãn động mạch vành, cải thiện sức co bóp của tim. Ngoài ra ở quả sơn tra hạt và ruột còn có nhiều tính năng như giảm béo, hạ huyết áp, chữa mất ngủ, an thần, cân bằng sinh lý và phòng chống tích cực các biến chứng do tăng huyết áp gây ra…để trị huyết áp cao, phòng biến chứng: Dùng sơn tra sao đen 12g, thảo quyết minh 12g, hoa cúc trắng 9g, ba thứ sấy khô tán nhỏ hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút là dùng được. Uống thay trà trong ngày.

    Ngoài những tính năng trên thì sơn tra ngâm rượu cũng có tác dụng rất tốt và là đặc sản của núi rừng Yên Bái. Những quả sơn tra được chọn để ngâm rượu là loại quả nhỏ, hơi dẹt, vỏ có màu phớt hồng, màu trắng hoặc vàng trong. Khi đã chọn được những quả sơn tra ngon đem rửa sạch, để ráo, phơi qua nắng, sau đó thái lát mỏng theo chiều ngang quả, ngâm với đường. Sơn tra được ngâm đường khoảng 3 đến 6 tháng thì chắt hết nước đường rồi đổ rượu vào ngâm. Sơn tra được ngâm qua đường khi ngâm rượu sẽ ngon hơn, rượu ngâm đủ 100 ngày là có thể dùng được lúc này rượu có màu vàng óng sóng sánh, mùi thơm đặc trưng, uống êm không có cảm giác đau đầu. Uống điều độ với liều lượng thích hợp còn có tác dụng an thần, dễ ngủ, tiêu hoá tốt, đẹp da, giải độc, tốt cho hệ tim mạch. Chính vì vậy quả sơn tra được dùng nhiều trong các vị thuốc bồi bổ tinh thần và chế thành rượu vang khai vị được nhiều người ưa thích. Sơn tra cũng được dùng để giải khát mát và bổ trong mùa hè. Quả sơn tra rửa sạch để ráo, cắt hai đầu, bổ tư, để nguyên hột cho đường vào ngâm. Sau 3 đến 6 tháng nước cốt sẽ có mầu vàng sóng sánh, vị ngọt dịu pha uống cảm giác giống như vang, có vị chua, chát chát, ngọt và mùi thơm đặc trưng. Nước sơn tra có tác dụng giải nhiệt, kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng. Sơn tra cũng được dùng để muối ăn sổi. Sơn tra muối với đường, muối và ớt thành một món vừa có vị cay, mặn, ngọt, giòn và mùi thơm riêng có của loại quả này. Cũng vì có nhiều tính năng như vậy nên sơn tra đã trở thành một loại đặc sản của núi rừng Yên Bái và được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước biết đến tìm mua về làm quà cho bạn bè và người thân.

    Nhiên liệu để sấy thịt và lạp xưởng (lạp sườn) cũng không đơn giản, phải là than hoa, bã mía, vỏ trấu, lá quế tươi, nếu là củi thì phải là thân cây quế, là thân tươi càng tốt. Theo giải thích của người làm nghề lạp xưởng (lạp sườn) thì nhiều người tham rẻ sấy bằng than tổ ong, rất độc hại; củi thì có rất nhiều loại gỗ chứa các chất độc, khói độc áp vào thịt sẽ có hại, nhất là gây đau bụng. Vì thế nhất thiết phải than hoa, hoặc củi quế.

    Chế biến món ăn từ lạp xưởng (lạp sườn) rất đơn giản, chỉ cần rửa cho sạch, thái vát (miếng thái dày 0,3 đến 0,5cm) rồi cho vào rán qua là được.

    Theo các già làng người Mông xã La Pán Tẩn kể lại, thì từ lâu lắm rồi đã thấy người Mông làm thứ rượu thóc quý này. Rượu thì nhà ai cũng nhiều, nhưng khách phải quý lắm thì người Mông mới mời uống. Mà đã uống thì phải uống bằng bát, uống cho bằng hết rượu trong nhà thì thôi. Chủ nhà “chào cỗ” với khách bằng hai bát rượu, khách cũng phải đáp lễ bằng hai bát. Uống xong mặt cười phơ lớ, rồi bắt tay nhau, rồi lại uống tiếp. Uống cho say đến độ không biết gì nữa, rồi cả chủ lẫn khách ôm nhau nằm ngủ dưới sàn đất trải rơm. Khách quý của người Mông thì phải như thế.

    Được cái rượu người Mông uống say không bao giờ bị đau đầu như thứ rượu Vodka hay cuốc lủi pha thuốc sâu ở dưới xuôi. Đêm uống say sáng ra người tỉnh táo như vừa trải qua một giấc ngủ. Rượu thóc La Pán Tẩn ngon nổi tiếng đến nỗi hàng năm Tết đến, nhiều người ở dưới Hà Nội kì công phóng cả ô tô lên mua vài chục lít về vừa uống vừa đi tặng. Giá một lít chỉ vào khoảng 30 nghìn đồng, không nhiều, nhưng cũng là một nguồn tăng thu nhập cho người La Pán Tẩn.

    Muốn có được loại rượu thành phẩm ngon thì ngoài việc lựa chọn được loại thóc nương ngon (nguyên liệu chính để nấu rượu) còn phải có thêm một số các nguyên liệu không thể thiếu khác là men lá gia truyền và nước nguồn tinh khiết lấy từ trong các khe núi đá mang về. Hiện tại, quá trình sản xuất rượu thóc của người Mông xã La Pán Tẩn vẫn hoàn toàn tuân thủ theo phương pháp cổ truyền. Tức là, thóc nương sau khi được làm sạch sẽ không xát mà để nguyên vỏ trấu cho vào chảo gang luộc trên bếp lửa từ 2 đến 3 giờ đồng hồ. Khi thóc đã chín sẽ được múc ra cho nguội hẳn rồi rắc men lá trộn đều bỏ vào các thùng. Khoảng hai ba ngày sau, khi các thứ trong thùng chứa bắt đầu lên men thì lại tiếp tục công đoạn ủ từ 7 đến 8 ngày rồi mới cho vào chưng cất thành rượu.

    Cách chưng cất rượu thóc của người Mông nơi đây gần giống với cách chưng cất rượu gạo của người miền xuôi nhưng điểm khác biệt là ở các dụng cụ để chưng cất. Thông thường, người Mông La Pán Tẩn sẽ đặt một chiếc chảo gang có nước lên trên bếp, rồi để một cái chu chớ (giống như cái chõ đồ được đục từ gốc cây gỗ lớn) có đường kính từ 70 – 80cm và chiều cao gần 1 mét lên bên trên chiếc chảo, xung quanh viền bịt kín bằng cám để kín hơi.

    Bên trong cái chu chớ tiếp tục đặt một cái chá chớ (bằng gỗ) đẽo theo hình cái máng dài thuôn nhỏ một đầu dùng để dẫn rượu ra ngoài. Sau khi mọi thứ đã được chuẩn bị xong và lửa trong bếp cũng đã được nổi lên, chủ nhà sẽ làm nốt công việc cuối cùng là đặt một cái chảo gang có chứa nước lạnh lên trên cái chu chớ (mục đích để ngưng rượu) rồi cầu khấn trước nồi rượu mong cho được mẻ rượu ngon.

    Cứ 50 kg thóc thì chưng cất được khoảng 20 lít rượu. Rượu nấu ra có nồng độ từ 47 đến 50 độ. Tuy có nồng độ cao, nhưng điều đặc biệt là rượu thóc La Pán Tẩn có vị êm say, thơm, ngọt, dễ uống chứ không có vị nồng, đắng như rượu ở một số nơi khác. Rượu không gây đau đầu, say cũng chỉ có cảm giác lâng lâng, đặc biệt càng ủ lâu ngày lại càng thơm ngon hơn…

    Cây Mắc khén là loại cây dại thuộc họ hồi, có tinh dầu và hương thơm, trở thành huyền thoại và làm nên loại gia vị đậm đà không thể thiếu trong bữa ăn đồng bào miền Tây Bắc. Cây Khén ra hoa vào dịp cuối xuân và đậu thành những chùm quả nhỏ như những chùm hạt rau mùi già. Cuối hè, người ta thu hái Mắc khén bằng cách leo lên cây hái hay dùng câu liêm kéo những cành nhỏ có quả rơi xuống và buộc lại thành chùm đem phơi nắng cho khô hoặc treo lên gác bếp dùng dần. Khi dùng Mắc Khén, người ta bứt một nắm quả cho vào chiếc bát con, chọn lấy một viên than củi đang cháy đượm nhất bỏ vào bát và lắc đều tay để nướng mắc khén. Khi thấy mùi thơm ngào ngạt bay ra thì gắp than ra, khẽ thổi cho bay hết tàn than rồi dùng chuôi dao giã nhỏ hạt Mắc khén thành bột để chế biến đồ chấm hay làm gia vị cho các món ăn.

    Thời xa xưa, khi những cánh rừng đại ngàn còn che chở bản làng, khi thú rừng rong chơi và những người thợ săn vẫn đêm đêm lặn lội theo dấu con mồi, thì Mắc khén nhất quyết không thể thiếu trong túi đồ thợ săn. Đồng bào Thái đen cho rằng, con thú sẽ được Thần rừng cho sống lại sau khi chết. Bởi vậy, mỗi khi bắn được con mồi, họ không bao giờ lấy bộ lòng. Xả thịt con mồi ngay giữa rừng, thợ săn sẽ đặt lại toàn bộ tim, gan, ruột của nó lên tảng đá và khấn với đại ý là : “Thưa Thần rừng, hôm nay tôi mượn một con vật của Thần. Tôi đã để lại bộ lòng, xin Thần cho nó cái vỏ khác để nó lại được chạy nhảy…”. Bài khấn xong là lúc những người đi săn có quyền thưởng thức phần còn lại của con thú. Và tục lệ bắt buộc phải ăn hết con mồi tại chỗ đã khiến việc sử dụng Mắc khén xát vào bên trong, bên ngoài con vật trước khi nướng trở thành thông dụng.

    Mắc, theo tiếng Thái, có nghĩa là quả. Nhưng còn Khén thì không hề có chữ gì đồng nghĩa hay cả trong ngôn ngữ bản địa. Bởi vậy Mắc khén mãi mãi sẽ là một tên riêng, tự nhiên tồn tại như chính bản thân núi rừng hoang dã, bí hiểm mà cũng quá đổi quen thuộc với con người. Thực tế Mắc khén là một loài cây dại thuộc họ hồi, có tinh dầu, khi đơm trái sẽ kết thành những chùm quả nhỏ li ti, tỏa hương thơm dịu. Đồng bào Tây bắc chỉ việc lên sườn núi, tìm những cành Mắc khén chín về phơi khô rồi xoa cho quả rời cành.

    Hầu như không có bữa ăn nào quan trọng của người Thái lại thiếu được Mắc khén, giống như một dạng muối vừng với người Kinh. Quả Mắc khén sau khi thu về, bắc chảo rang nóng. Tiếp đó, đưa vào giã thành bột mịn. Tuy nhiên để chế ra được hương vị thơm phức, chuyên dùng ăn với xôi nếp nương, còn phải qua nhiều công đoạn khác. Đó là dùng ớt khô bỏ hạt nướng giòn, muối rang, rau mùi tầu xắt nhỏ rang khô, tất cả đều giã thành bột mịn. Sau khi trộn đều hỗn hợp trên thì tạo thành Mắc khén, một thứ bột mùi thơm hăng hắc nhưng lại dịu như vị ô mai và phảng phất chất núi rừng, thơm cay nồng nàn như hương hồi, quế.

    Mắc khén thông dụng nhất dùng để chấm xôi nếp nương, thu hoạch từ cánh đồng Tú Lệ, dưới chân đèo Khau Phạ, thì chắc chắn không có hương vị nào sánh bằng. Loại gia vị này còn dùng để tẩm ướp, mang lại cho các món ăn của người Thái những hương vị đặc biệt mà không đâu sánh bằng.

    Mắc khén là một trong những loại gia vị độc đáo mà núi rừng Tây Bắc đã ban tặng người dân nơi đây, góp phần làm cho ẩm thực Việt Nam thêm phần phong phú. Ai đã được từng thưởng thức những món ăn chế biến từ gia vị này chắc chắn sẽ không thể quên được hương vị đặc trưng của nó mà không phải ở đâu cũng tìm thấy được.

    Muồm muỗm rang Mường Lò

    Có rất nhiều cách để chế biến món ăn ngon từ muồm muỗm. Song muồm muỗm rang giòn vẫn là đặc sản được người dân nơi đây ưa chuộng nhất. Để có món đặc sản muồm muỗm rang giòn thơm ngon, trước tiên phải sơ chế muồm muỗm. “Vặt cánh, bẻ chân, ngắt đầu, rút ruột” là 4 khâu cơ bản để tạo nên hình hài một chú muồm muỗm trên bàn nhậu. Phần còn lại của muồm muỗm sau khi được làm sạch trông cứ kỳ kỳ, nần nẫn chẳng khác gì cái kén của tằm dâu. Xong khâu “làm lông”, muồm muỗm được rửa sạch, để ráo nước rồi cho vào chảo.

    Đầu tiên, muồm muỗm được om với nước măng chua (hoặc giấm gạo) trên bếp lửa liu riu. Cạn nước, cho ngay mỡ (hoặc dầu ăn) vào, đảo đều tay trên bếp to lửa; khi nào nghe tiếng nổ lách tách tức là muồm muỗm đã chín giòn, cho bột canh (hoặc nước mắm, hạt nêm…) vừa đủ cùng với mì chính, một chút ớt tươi và đảo nhanh tay; cuối cùng, cho lá chanh thái chỉ nhỏ vào, đảo đều chín tới lá chanh là bắc chảo ra được. Muồm muỗm rang chín có màu vàng sậm, rất thơm.

    Trước tiên, đầu bếp dùng kéo cắt bỏ những cái chân có phần gai sắc nhọn, tiếp đó là rút phần ruột và bỏ túi hôi ở gáy; thao tác này làm phải khéo để dế còn nguyên con. Tiếp đó, người ta rửa dế bằng nước sôi hoặc nước măng chua. Sau đó, đem ướp với nước mắm, tiêu, hành, tỏi, bột ngọt cho thấm rồi bắt đầu chiên trên chảo mỡ đang sôi. Đợi đến khi dế chín vàng rụm mới vớt ra cho vào đĩa, rắc lên một ít lá chanh thái chỉ. Nếu thích dế lăn bột thì cho thêm bột chiên vào, trộn đều trước khi chiên.

    Điều đặc biệt khi chiên dế chỉ cho một lượng dầu ăn vừa phải. Bởi lẽ bản thân con dế đã chứa rất nhiều dầu, nếu cho quá tay dầu ăn sẽ tạo cảm giác béo rất nhanh ngấy. Khi chiên, hạn chế tối đa việc đảo đi đảo lại tránh làm gẫy càng và thân dế mà chỉ nên dùng tay hất đều chảo với lửa vừa phải.

    Dế sau khi chiên xong có màu vàng ruộm và mùi thơm đặc trưng của các loại gia vị hòa quyện vào nhau. Bạn có thể rưới thêm nước ớt hoặc nước măng chua tăng phần đậm đà cho món ăn. Một đĩa đặc sản dế mèn đã bày ra trước mắt mùi thơm lừng. Ăn phần đầu hay phần đùi thì giòn tan, phần bụng thì dai dai, bùi bùi. Dế chiên giòn có thể ăn kèm cùng cóc xanh, xoài xanh, dưa chuột, chanh… tạo cảm giác ngon miệng, đồng thời giảm độ béo ngậy. Dế mèn dùng để nhắm bia hay nhắm rượu đều tuyệt.

    Bánh chưng đen Mường Lò

    Nguyên liệu làm bánh của đồng bào được chọn lựa kỹ càng: lá dong bánh tẻ, khổ vừa phải, rửa sạch, lau khô. Gạo nếp được chọn phải là nếp Tú Lệ thơm ngon, nhân đỗ xanh hoặc đỗ nho nhe đãi sạch vỏ, không lẫn sạn. Thịt lợn ngon nhất là thịt ba chỉ, nhiều mỡ một chút, thái mỏng, ướp với gia vị, hạt tiêu, hành củ. Để tạo màu đen cho chiếc bánh, đồng bào lấy thân cây núc nác tước vỏ, hoặc hoa cây vừng đen đốt thành than, giã mịn như bột, trộn lẫn với gạo nếp, đảo đều cho đến khi gạo quyện với bột than thành màu đen.

    Bánh chưng đen phải được gói thủ công. Củi để luộc bánh phải là củi gỗ to, giữ than tốt, khi luộc xếp bánh vào nồi, đậy kín vung. Lúc nồi bánh chưa sôi thì đun to lửa, khi nồi bánh đã sôi giữ lửa đều, đủ nhiệt để bánh chín nhuyễn, chín đều, đun từ 6-7 tiếng. Khi chín vớt ra cho vào chậu nước rửa qua và treo bánh thành từng cặp để cho bánh không bị mốc. Thưởng thức một miếng bánh, cảm nhận được hương vị thật đặc biệt, vị thơm của nếp, vị ngọt, béo của thịt lợn vùng cao, vị ngậy bùi của nhân đỗ xanh, vị là lạ của cây rừng.

    Bánh chưng đen của người Thái được cha truyền, con nối qua nhiều thế hệ. Tết đến, ăn miếng bánh chưng đen, mùi gạo quyện với than núc nác, hoa cây vừng đen, vị ngọt làm người ăn như thưởng thức được cả mùi cỏ cây, ruộng đồng, đất trời và thiên nhiên nơi miền Tây Yên Bái.

    DOIDUAVANG.VN

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Món Ăn Ngon, Đặc Sản Yên Bái Bạn Nên Thưởng Thức
  • Hướng Dẫn Cách Làm Cơm Gà Xối Mỡ Ngon Tại Nhà
  • Cách Làm Mứt Vỏ Bưởi Thơm Ngon Cho Món Ăn Ngày Xuân Thêm Phần Đa Dạng
  • Top 9 Quán Bánh Xèo Quận Tân Phú Sài Gòn Ngon Ngất Ngây
  • Món Ăn Ngon Làm Thuốc Mùa Xuân
  • 7 Món Ăn Ngon, Đặc Sản Yên Bái Bạn Nên Thưởng Thức

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Sản Và Các Món Ăn Ngon Tại Yên Bái
  • Giảm Cân Hiệu Quả Bằng Món Ăn Ngon Lành Từ Yến Mạch
  • Tham Khảo Thực Đơn Đủ Món Hấp Dẫn ‘vỗ Béo’ Cho Chồng Tăng 17Kg Của Cô Vợ Việt Ở Pháp
  • Cách Chế Biến Món Ăn Ngon Hàng Ngày Cho Trẻ Mầm Non
  • 3 Món Ăn Bổ Dưỡng Giúp Bà Bầu Ngon Miệng, An Thai
  • “Nếp Tú Lệ, tẻ Mường Lò” câu ca dao của dân tộc Thái ấy từ lâu không chỉ được truyền tụng khắp vùng Tây Bắc, mà hương vị độc đáo của giống gạo quý ấy còn bay xa khắp mọi vùng đất nước. Đặc biệt là nếp Tan Lả Tú Lệ (Văn Chấn – Yên Bái).

    Thung lũng Tú Lệ thuộc phía Tây của tỉnh Yên Bái, Tú Lệ cái tên đã nói phần nào vẻ đẹp nơi đây. Tú Lệ mùa nào cũng đẹp, khi lúa non, từ trên đèo cao nhìn xuống, thung lũng Tú Lệ như thảm cỏ xanh mướp, mùa lúa chín đây đúng là một thung lũng vàng và hơn thế hương thêm từ thứ nếp nổi tiếng có thể làm bạn “say” nơi đây chẳng muốn về.

    Nếp tan là thứ gạo nếp rất nổi tiếng, người ta ví, khi đồ thứ gạo này có thể hương thơm bay xa vài trăm mét, bản trên, xóm dưới đều có thể hưởng hương thơm. Vào đầu mùa thu hoạch (khoảng tháng 4 và tháng 10 hàng năm), may mắn, bạn sẽ được thưởng thức cốm Tú Lệ ngon chẳng kém gì cốm Làng Vòng nức tiếng ở Hà Nội.

    “Mường Lò gạo trắng nước trong

    Ai đi đến đó lòng không muốn về”

    Xôi ngũ sắc hội tụ được những giá trị truyền thống và hiện đại, mang ý nghĩa về quan niệm vũ trụ, triết lý âm dương:

    • Khẩu cắm lanh là cơm xôi màu đỏ tượng trưng cho khát vọng.
    • Khẩu cắm lăm là cơm xôi màu tím tượng trưng cho trái đất trù phú.
    • Khẩu cắm hương là cơm xôi màu vàng tượng cho sự no ấm đầy đủ.
    • Khẩu khiêu là cơm xôi màu xanh tượng trưng cho màu xanh của núi rừng Tây Bắc.
    • Khẩu nón là cơm xôi màu trắng tượng trưng cho tình yêu trong trắng thuỷ chung.

    Để có xôi ngon, thơm dẻo người làm nghề phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy trình từ khâu chọn lá nhuộm màu đến việc đồ xôi.

    Nguyên liệu để nấu xôi phải là gạo nếp Tú Lệ hạt to, trong, một loại nếp thơm ngon và nổi tiếng nhất vùng. Bốn loại lá rừng dùng để nhuộm các màu xanh – đỏ – tím – vàng được người dân lựa chọn kỹ lưỡng, lá không được quá non hay quá già.

    Xôi chín được đơm vào đĩa hoặc trình bày theo từng ý tưởng khác nhau với 5 màu xanh – đỏ – tím -vàng – trắng. Năm màu được ghép trên một mâm xôi hình cánh hoa ban thì tượng trưng cho thuyết âm dương Ngũ hành, đồng thời thể hiện khát vọng yêu thương, tình yêu son sắt thuỷ chung, lòng yêu mẹ kính cha của đồng bào dân tộc Thái Tây Bắc.

    Cuối tháng 4, từ thành phố Yên Bái bầu trời nặng nước từ sau tết khiến cả vùng đầy ẩm ướt và nồm nhưng vượt qua đèo Ách, nắng bừng lên làm lòng người rộn rã.

    Hoa nhãn đã nở rộ dọc quốc lộ 32, ong lấy mật mùa này đủ mật ngọt… Với diện tích hàng ngàn ha trồng nhãn, khu vực Văn Chấn, Nghĩa Lộ là địa điểm khá lý tưởng để thưởng thức hương vị mật ong nhãn.

    Có thể nói, làm lạp xưởng (lạp sườn) là bí quyết của người có nghề, vẫn thịt ba chỉ thái nhỏ, bột canh, hạt tiêu, mật ong, đường, rượu trắng…. nhưng cho cái nào trước, cái nào sau, thời gian tẩm ướp là bao nhiêu thì phải học.

    Làm lạp xưởng (lạp sườn) phải cẩn thận chú ý đến thời gian tẩm ướp, chú ý đến khâu củi lửa, không được đun to, không được để tắt bếp trong giai đoạn thịt lên men… nếu không lạp xưởng (lạp sườn) dễ bị chua, nhanh bị ôi, thối sau này.

    Nhiên liệu để sấy thịt và lạp xưởng (lạp sườn) cũng không đơn giản, phải là than hoa, bã mía, vỏ trấu, lá quế tươi, nếu là củi thì phải là thân cây quế, là thân tươi càng tốt.

    Theo giải thích của người làm nghề lạp xưởng (lạp sườn) thì nhiều người tham rẻ sấy bằng than tổ ong, rất độc hại; củi thì có rất nhiều loại gỗ chứa các chất độc, khói độc áp vào thịt sẽ có hại, nhất là gây đau bụng. Vì thế nhất thiết phải than hoa, hoặc củi quế.

    Và món lạp xưởng Yên Bái rất đáng để thưởng thức khi bạn đặt chân tới vùng đất này.

    5. Muồm muỗm rang Mường Lò

    Có rất nhiều cách để chế biến món ăn ngon từ muồm muỗm. Song muồm muỗm rang giòn vẫn là đặc sản được người dân nơi đây ưa chuộng nhất.

    Để có món đặc sản muồm muỗm rang giòn thơm ngon, trước tiên phải sơ chế muồm muỗm. “Vặt cánh, bẻ chân, ngắt đầu, rút ruột” là 4 khâu cơ bản để tạo nên hình hài một chú muồm muỗm trên bàn nhậu.

    Phần còn lại của muồm muỗm sau khi được làm sạch trông cứ kỳ kỳ, nần nẫn chẳng khác gì cái kén của tằm dâu. Xong khâu “làm lông”, muồm muỗm được rửa sạch, để ráo nước rồi cho vào chảo.

    Muồm muỗm rang chín có màu vàng sậm, rất thơm.

    6. Bánh chưng đen Mường Lò

    Bánh được đồng bào dân tộc Thái nơi đây làm ra với ý nghĩa thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời. Món bánh đặc sản này không thể thiếu trên mâm cỗ cúng tổ tiên, trời đất mỗi khi xuân về.

    Nguyên liệu làm bánh của đồng bào được chọn lựa kỹ càng: lá dong bánh tẻ, khổ vừa phải, rửa sạch, lau khô. Gạo nếp được chọn phải là nếp Tú Lệ thơm ngon, nhân đỗ xanh hoặc đỗ nho nhe đãi sạch vỏ, không lẫn sạn.

    Thịt lợn ngon nhất là thịt ba chỉ, nhiều mỡ một chút, thái mỏng, ướp với gia vị, hạt tiêu, hành củ. Để tạo màu đen cho chiếc bánh, đồng bào lấy thân cây núc nác tước vỏ, hoặc hoa cây vừng đen đốt thành than, giã mịn như bột, trộn lẫn với gạo nếp, đảo đều cho đến khi gạo quyện với bột than thành màu đen.

    Thưởng thức một miếng bánh, cảm nhận được hương vị thật đặc biệt, vị thơm của nếp, vị ngọt, béo của thịt lợn vùng cao, vị ngậy bùi của nhân đỗ xanh, vị là lạ của cây rừng.

    Lá rong cháy đến lớp trong cùng, mỡ và nước xanh thơm mát của rêu suối rỉ ra, thì bày ra đĩa. Khi ăn, mở gói lá dong ra, mùi mắc khén, hạt sẻn và mấy chục thứ gia vị cùng ngạt ngào, riêng có rêu vẫn mát lịm, thanh tao.

    Món rêu nướng (khay/”cay pho”) vừa quyến rũ với nghệ thuật thứ thiệt của gia vị ẩm thực Thái, lại vừa giữ được cái mát lành, thơm thảo, dịu dàng của vị rêu suối.

    Món “cay pỉnh” còn thú vị hơn: đem nguyên liệu rêu và gia vị gói bằng lá lốt hoặc lá chanh. Kẹp các gói nhỏ trên thanh tre tươi trẻ đôi, nướng giòn. Rêu chín, cho vào rán với mỡ lợn.

    Rêu suối nhiều, nhưng rêu ngon thì ít. Và cái mùa rêu ăn được, ăn thứ thiệt được lại càng ngắn ngủi. Nên bà con vùng cao (những nơi có tục ăn rêu) quý rêu lắm.

    Khách quý thì mới đãi rêu khô trên gác bếp. Rêu thường được tổ chức ăn vào bữa cơm tối, khi đại gia đình đông đủ. Cô dâu Thái thường coi dành túm rêu nướng cho mẹ chồng những mong tròn vẹn hơn cái đạo dâu con.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Làm Cơm Gà Xối Mỡ Ngon Tại Nhà
  • Cách Làm Mứt Vỏ Bưởi Thơm Ngon Cho Món Ăn Ngày Xuân Thêm Phần Đa Dạng
  • Top 9 Quán Bánh Xèo Quận Tân Phú Sài Gòn Ngon Ngất Ngây
  • Món Ăn Ngon Làm Thuốc Mùa Xuân
  • Cách Hầm Xương Ống Heo Thơm Ngon Và Nhanh Mềm
  • Mách Bạn Top 15 Quán Ăn Ngon Tại Yên Bái

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 20 Quán Ăn Ngon Vĩnh Phúc Nổi Tiếng Nhất Định Phải Thưởng Thức
  • Ghi Liền Top 15 Quán Ăn Ngon Tại Vĩnh Phúc
  • Ăn Gì Ở Phú Yên? Top 30 Món Ngon + Nhà Hàng Quán Ăn Ngon Phú Yên
  • 8 Món Ăn Ngon Làm Quà Tặng Ý Nghĩa Cho Ngày 8
  • Thưởng Thức 28 Món Ngon Nức Tiếng Của Nước Ý
  • Nếu bạn là một người thích chu du, khám phá những vùng đất mới thì Yên Bái chắc chắn là một điểm đến đầy thú vị. Nằm giữa Tây Bắc xinh đẹp và hoang sơ nơi có phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, Yên Bái còn là một vùng đất đa dạng sắc màu văn hóa với hơn 30 dân tộc sinh sống.

    Cùng tham khảo Top 15 quán ăn ngon tại Yên Bái

    1.Mì cay Seoul – Quán ăn ngon tại Yên Bái

    Món mì cay Hàn Quốc từ lâu đã không còn xa lạ đối với các tín đồ ăn uống đặc biệt là các bạn trẻ. Yên Bái cũng không thiếu các quán phục vụ mì cay ngon, trong đó phải nói đến Mì cay Seoul được rất nhiều thực khách yêu thích. Không gian quán rộng rãi, thoải mái được bày trí xinh xắn.

    Quán phục vụ nhiều món mì cay như mì cay bò, mì cay sườn sụn, mì cay gà kim chi, mì cay thập cẩm, mì cay hải sản, mì cay bạch tuộc. Ngoài mì cay quán còn phục vụ nhiều món ăn hấp dẫn khác như bánh bạch tuộc, bánh gạo cay, kmbap chiên, hoa quả chiên, lẩu cay. Nước uống ở đây cũng rất đáng thử.

    Mì cay Seoul – Quán ăn ngon tại Yên Bái

    Chuẩn vị Hàn Quốc

    Có nhiều món ăn vặt

    Địa điểm Mì cay Seoul – Quán ăn ngon tại Yên Bái:

    Giờ mở cửa: 8h00 đến 22h30.

    Địa chỉ:173 Nguyễn Thái Học, P.Nguyễn Thái Học, Thành phố Yên Bái, Yên Bái.

    2.Lẩu nướng A89 – Quán ăn ngon tại Yên Bái

    Lẩu nướng A89 nằm ở thành phố Yên Bái có vị trị vô cùng dễ tìm. Quán chuyên phục vụ các món nướng không khói với nguyên liệu đa dạng như bò Úc, heo Úc, hải sản, trâu, ngựa, cá,…và các món lẩu cua, lẩu thái. Nguyên liệu ở đây vô cùng tươi ngon, được bảo quản tốt và đảm bảo chất lượng.

    Giá cả ở đây cũng vô cùng bình dân, phù hợp với mọi thực khách, mọi lứa tuổi. Tất cả các món ăn ở đây đều được chế biến với hương vị độc quyền. Không gian sang trọng, rộng rãi nhưng không kém phần ấm cúng, tạo cảm giác thoải mái cho thực khách. Đây chính là địa điểm lý tưởng cho bữa ăn gia đình.

    Lẩu nướng A89 – Quán ăn ngon tại Yên Bái

    Nguyên liệu tươi ngon

    Nước lẩu đậm đà

    Địa điểm Lẩu nướng A89 – Quán ăn ngon tại Yên Bái:

    Giờ mở cửa: 9h00 đến 23h00.

    Địa chỉ: Km6, Nguyễn Tất Thành, Thành phố Yên Bái, Yên Bái.

    3.Bánh cuốn Thu Hà

    Bánh cuốn Thu Hà dường như đã trở thành thương hiệu nổi tiếng tại Yên Bái, sẽ không quá để nói rằng ở đây ai cũng biết đến quán ăn này với món bánh cuốn vô cùng thu hút. Đây là địa chỉ chuyên phục vụ món bánh cuốn sạch và phục vụ theo suất. Bánh cuốn luôn được phục vụ nóng hổi, vô cùng thơm ngon.

    Bánh cuốn ở đây được tráng mỏng, cuộn phần nhân có thịt băm và mộc nhĩ. Thêm cùng ít rau và hành phi lại càng hấp dẫn hơn. Nước chấm ở đây được pha chế với công thức riêng rất hợp và làm món ăn thêm phần hấp dẫn. Quán phục vụ các món ăn rất bình dân phù hợp với mọi thực khách.

    Bánh cuốn Thu Hà

    Bánh cuốn nóng hổi

    Thu hút thực khách

    Địa điểm Bánh cuốn Thu Hà:

    Giờ mở cửa: 9h00 đến 21h00.

    Địa chỉ: 92 Đinh Tiên Hoàng, Thành phố Yên Bái, Yên Bái.

    4.Steakhouse

    Steakhouse là quán phục vụ các món bít tết cực kỳ ngon. Thịt bò ở đây vô cùng chất lượng, được thái lát mỏng và được nêm nếm vừa vị. Miếng thịt bò được cắt vuông, vừa vặn và chín tới. Giá cả ở đây cũng tương đối bình dân, không quá mắc xứng đáng cho một phần bít tết chất lượng như ở đây.

    Ngoài ra, ở đây còn phục vụ nhiều món ngon khác như mì ý, bánh mì chảo, cơm niêu gà,… Ngoài ra ở đây còn nhiều đồ uống hấp dẫn phải kể đến như trà đào, trà sữa thái, sữa đậu nành, sữa ngô, nước cam, nước ngọt các loại và bia. Không gian quán rộng rãi tạo cảm giác thoải mái.

    Steakhouse

    Thịt bò chất lượng

    Menu đa dạng

    Địa điểm Steakhouse:

    Giờ mở cửa: 7h30 đến 23h00.

    Địa chỉ: 307 Thành Công, Thành phố Yên Bái, Yên Bái.

    5.F1 Restaurant

    F1 Restaurant là một trong những nhà hàng uy tín nhất tại Yên Bái thu hút đông đúc thực khách đến đây hàng ngày. Nơi đây không chỉ gây ấn tượng với không gian rộng rãi, vô cùng sang trọng mà còn có những món ăn chất lượng, hương vị hấp dẫn sẽ làm bạn xao xuyến dù là những thực khách khó tính.

    Menu ở đây cực kỳ đa dạng có nhiều lựa chọn cho thực khách tha hồ chọn lựa. Các món ăn đều được chế biến bởi các đầu bếp có tay nghề, giàu kinh nghiệm. Các món ăn được trang trí cũng rất đẹp mắt và cuốn hút cho thấy sự chăm chút và tỉ mỉ. Phục vụ ở đây cũng rất chuyên nghiệp, nhanh nhẹn.

    F1 Restaurant

    Món ăn hấp dẫn

    Hương vị khó quên

    Địa điểm F1 Restaurant:

    Giờ mở cửa: 9h00 đến 22h00.

    Địa chỉ: Tổ 5, Phường Yên Ninh, Thành phố Yên Bái, Yên Bái.

    6.MAMA Food

    Nếu bạn là một tín đồ của các món ăn vặt thì nhất định phải ghé đến quán MAMA Food nổi tiếng lừng danh tại Yên Bái. Menu ở đây vô cùng đa dạng với nhiều món ăn vặt như chả cá cay, gà sốt phô mai, pizza bò ngô, pizza xúc xích thịt bằm, đùi gà sốt cay, đùi gà sốt chua cay, đùi gà sốt chua ngọt,…

    Nếu bạn muốn tìm món ăn lót dạ, để lấp đầy chiếc bụng đói thì có thể thưởng thức món cơm sườn, cơm gà ở đây, cũng rất đáng thử. Menu thức uống ở đây cũng hấp dẫn và đa dạng không kém với nhiều món như nước chanh leo, ca cao nóng. cam ép, trà bốn mùa, sữa chua đánh đá, sinh tố các loại,…

    MAMA Food

    Thu hút giới trẻ

    Thực đơn phong phú

    Địa điểm MAMA Food:

    Giờ mở cửa: 8h00 đến 22h00.

    Địa chỉ: 1105 Đường Yên Ninh, Phường Đồng Tâm, Thành phố Yên Bái, Yên Bái.

    7.GooFoo Gelato – Quán ăn ngon tại Yên Bái

    GooFoo Gelato là quán ăn nổi tiếng thu hút nhiều thực khách tại địa phương và có cả khách du lịch. Nơi đây phục vụ rất nhiều món kem đa dạng và chất lượng. Một số loại được thực khách yêu thích như kem hoa hồng, kem dừa Thái , kem xôi dừa Thái, kem ốc quế, kem hoa quả ngũ cốc, kem dừa nhãn,…

    Vị trí của quán cũng rất dễ tìm cả khi bạn không phải là thực khách tại địa phương. Ngoài ra còn có nhiều món ăn vặt hấp dẫn và rất được lòng các bạn trẻ. Menu đa dạng nhưng chất lượng món nào cũng rất tuyệt vời, chắc chắn sẽ không làm bạn thất vọng. Giá cả bình dân, phù hợp với chất lượng.

    GooFoo Gelato – Quán ăn ngon tại Yên Bái

    Nhiều món kem hấp dẫn

    Chất lượng xứng đáng

    Địa điểm GooFoo Gelato – Quán ăn ngon tại Yên Bái:

    Giờ mở cửa: 9h00 đến 23h00.

    Địa chỉ: 39 Nguyễn Tất Thành, P.Đồng Tâm, Thành phố Yên Bái, Yên Bái.

    8.Lẩu ếch Hoàng Phúc

    Nếu bạn muốn tìm một địa điểm để lai rai vài ly cùng anh em, bạn bè thì Lẩu ếch Hoàng Phúc là một sự lựa chọn tuyệt vời. Là một quán nhậu nhưng món ăn ở đây cũng rất chất lượng và thơm ngon. Giữa tiết trời se lạnh của vùng núi Yên Bái còn gì tuyệt vời hơn được ngồi quay quần bên nồi lẩu ấm áp.

    Lẩu ếch Hoàng Phúc

    Thịt ếch săn chắc

    Nêm nếm vừa vị

    Địa điểm Lẩu ếch Hoàng Phúc:

    Giờ mở cửa: 9h00 đến 0h00.

    Địa chỉ: 185 Nguyễn Thái Học, Thành phố Yên Bái, Yên Bái.

    9.Nhà hàng Quý Cá

    Nhà hàng Quý Cá chính là cái tên tiếp theo trong danh sách các địa điểm ăn uống bạn không nên bỏ lỡ khi đến Yên Bái. Đây là nhà hàng chuyên phục vụ các món ăn đến từ cá và gà chọi. Hương vị món ăn thơm ngon mà giá cả thì lại vô cùng phải chăng. Nguyên liệu ở đây luôn được tuyển chọn rất kỹ càng.

    Vì là gà chọi nên thịt gà ở đây ngon hơn hẳn các nơi khác, thịt gà rất chắc và dai ngon. Tay nghề đầu bếp ở đây rất điêu luyện và giàu kinh nghiệm. Món nào cũng có hương vị rất hòa quyện và vừa ăn. Không gian nhà hàng rộng rãi, thoải mái. Bàn ghế cao ráo, lịch sự phù hợp cho bữa ăn gia đình.

    Nhà hàng Quý Cá

    Nguyên liệu tươi ngon

    Đông đúc thực khách hàng ngày

    Địa điểm Nhà hàng Quý Cá:

    Giờ mở cửa: 7h30 đến 20h00.

    Địa chỉ: Hoàng Văn Thụ, chúng tôi Tân, Thành phố Yên Bái, Yên Bái.

    10.Bánh mì Thanh Vân

    Bánh mì Thanh Vân là quán ăn phục vụ món điểm tâm sáng bình dân mà lại vô cùng hấp dẫn tại Yên Bái. Nơi đây phục vụ rất nhiều món bánh mì ngon từ truyền thống đến hiện đại. Có các loại như bánh mì que, bánh mì trứng, doner kebab. Ngoài ra quán còn phục vụ các loại xiên que khác nhau.

    Có cả hồ lồ nướng, lạp xưởng, xúc xích, tôm viên, phô mai que, xôi chiên phồng, surimi, nem chua, khoai tây chiên, thanh cua,… Giá cả món ăn vô cùng phải chăng, phù hợp với mọi thực khách. Chủ quán rất thân thiện, nhiệt tình cũng là một điểm cộng cho quán ăn này.

    Bánh mì Thanh Vân

    Món ăn bình dân

    Nổi tiếng Yên Bái

    Địa điểm Bánh mì Thanh Vân:

    Giờ mở cửa: 7h00 đến 20h00.

    Địa chỉ: 996 Điện Biên, Phường Đồng Tâm, Thành phố Yên Bái, Yên Bái.

    11.Nhà hàng Việt Hoa

    Nhà hàng Việt Hoa là nhà hàng cực kì có uy tín tại Yên Bái được đông đảo tín đồ sành ăn tin tưởng và thường xuyên ghé đến. Nhà hàng có menu phong phú và đa dạng các món ăn khác nhau nhưng nổi tiếng nhất là các món lẩu, gà đồi, gà quê, gà suất,… vô cùng chất lượng với hương vị đặc trưng.

    Không gian nhà hàng rộng rãi, nhiều bàn đáp ứng đủ cho lượng khách đông đảo hàng ngày. Nhân viên phục vụ rất nhanh nhẹn, nhiệt tình và thái độ phục vụ cũng rất vui tươi, tận tình. Nhà hàng còn nhận đặt tiệc, sinh nhật hay hội nghị. Đây chắc chắn sẽ là nơi cho bạn những trải nghiệm ẩm thực tuyệt vời.

    Nhà hàng Việt Hoa

    Không gian rộng rãi

    Phục vụ nhiệt tình

    Địa điểm Nhà hàng Việt Hoa:

    Giờ mở cửa: 10h30 đến 21h00.

    Địa chỉ: Tổ 4, Phường, Thành phố Yên Bái, Yên Bái.

    12.Nhà hàng Pubu

    Nhà hàng đặt tiêu chí làm thực khách hài lòng lên hàng đầu. Vì thế, nơi đây luôn dành tâm huyết để tạo ra những món ăn, đồ uống ngon nhất, độc đáo nhất. Nơi đây thích hợp để bạn dẫn gia đinh lại ăn uống, tụ tập cùng bạn bè, hay liên hoan cùng đồng nghiệp. Phục vụ ở đây cũng rất tận tình.

    Nhà hàng Pubu

    Chế biến khéo léo

    Hương vị khó quên

    Địa điểm Nhà hàng Pubu:

    Giờ mở cửa: 8h00 đến 22h00.

    Địa chỉ: Tân Thịnh, Thành phố Yên Bái, Yên Bái.

    13.Quán nướng ngói 936

    Quán nướng ngói 936 là quán đồ nướng được nhiều thực khách yêu chuộng và tin tưởng tại thành phố Yên Bái. Nguyên liệu ở đây vô cùng phong phú và đa dạng từ hải sản cho đến các loại thịt. Thịt nướng được ướp rất vừa ăn và thấm vị. Các món nướng được nướng ở trên ngói thay vì vỉ nướng thông thường.

    Nước chấm thịt nướng của quán cũng rất ngon làm tăng độ hấp dẫn của món ăn. Miếng ngói được đảm bảo sạch sẽ, thực khách có thể hoàn toàn yên tâm. Nướng theo phong cách này thịt nướng vừa thơm mà không bị khô cứng. Giá cả ở đây cũng vô cùng bình dân, phù hợp với chất lượng.

    Quán nướng ngói 936

    Nguyên liệu đa dạng

    Thịt nướng thấm vị

    Địa điểm Quán nướng ngói 936:

    Giờ mở cửa: 9h00 đến 0h00.

    Địa chỉ: 936 Điện Biên, thành phố Yên Bái, Yên Bái.

    14.Nhà hàng Minh Đức

    Nhà hàng Minh Đức là nhà hàng có thâm niên tại thành phố Yên Bái, với hơn 20 năm kinh nghiệm trong nghề nơi đây sau bao năm vẫn luôn chiếm trọn niềm tin của khách hàng bởi chất lượng món ăn tuyệt vời. Không gian nhà hàng rộng rãi, thoáng mát và được trang trí vô cùng sang trọng.

    Nhà hàng có menu cực kỳ đa dạng với nhiều món ăn khác nhau từ Á đến Âu, sẽ giúp bạn dễ dàng có được sự lựa chọn phù hợp với sở thích ăn uống của mình. Các món ăn luôn được đầu từ kỹ càng từ nguyên liệu đến cách chế biến kỳ công, tỉ mỉ để tạo nên những món ăn vừa mang hương vị ngon lại vô cùng đẹp mắt.

    Nhà hàng Minh Đức

    Vô cùng đầy đặn

    Bày trí hấp dẫn

    Địa điểm Nhà hàng Minh Đức:

    Giờ mở cửa: Mở cửa cả ngày.

    Địa chỉ: 381 Lê Hồng Phong, P. Nguyễn Phúc, Thành phố Yên Bái, Yên Bái.

    15.Nhà hàng Mạnh Thắng

    Có dịp đến với Yên Bái mà chưa thưởng thức các món ăn đặc sản thì đúng là một thiếu sót lớn. Nhà hàng Mạnh Thắng là nhà hàng chuyên phục vụ các món ngon đặc sản Tây Bắc được nhiều thực khách tin tưởng đặc biệt là khách du lịch. Được đầu bếp bản địa chế biến nên món ăn đảm bảo chuẩn vị.

    Nhà hàng còn phục vụ các món cơm bình dân và các món nhậu. Ngoài ra ở đây còn nhận đặt cơm, cơm hộp và cơm văn phòng. Giá cả món ăn vô cùng bình dân, phù hợp với mọi thực khách. Không có tình trạng chặt chém khách du lịch. Nhân viên phục vụ vô cùng nhanh nhẹn, nhiệt tình.

    Nhà hàng Mạnh Thắng

    Chuẩn vị Tây Bắc

    Món ăn đặc trưng

    Địa điểm Nhà hàng Mạnh Thắng:

    Giờ mở cửa: 8h00 đến 22h30.

    Địa chỉ: 144 Đinh Tiên Hoàng, Thành phố Yên Bái, Yên Bái.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Những Quán Ăn “ngon Miễn Chê” Của Thành Phố Yên Bái
  • 4 Món Nhất Định Phải Ăn Trong Mùa Xuân!
  • Gợi Ý Bạn Chế Biến Các Món Ngon Từ Xúc Xích Cho Bữa Tiệc Hẹn Hò
  • 31 Món Ăn “gây Thương Nhớ” Của Xứ Huế
  • 15 Trang Web Ẩm Thực Nổi Tiếng Thế Giới
  • Món Ngon Yên Bái Bạn Nên Thưởng Thức Một Lần

    --- Bài mới hơn ---

  • Món Ngon Đặc Sản Yên Bái Đậm Vị Núi Rừng Mộc Mạc, Bình Dị Và Độc Đáo
  • Những Món Ăn Khuya Ngon Luôn Khiến Các “cú Đêm” Cồn Cào Không Yên
  • Những Món Ăn Sáng Ngon Cực Dinh Dưỡng Cho Ngày Mới
  • Những Món Ngon Phú Quốc Nổi Tiếng Nhất Định Phải Thử
  • Bữa Tiệc Giáng Sinh Của Người Phương Tây Có Những Món Gì?
  • Thịt trâu gác bếp

    Thịt trâu gác bếp là món ăn mang đậm bản sắc văn hóa người dân tộc miền núi. Cụ thể là văn hóa của người Thái đen ở Nghĩa Lộ, Yên Bái. Để làm được những miếng thịt trâu gác bếp ngon nhất, người ta phải lựa chọn thật kĩ những thớ thịt chắc nạc. Thịt này được lấy từ những con trâu thả rông trên đồi.

    Quan trọng nhất chính là công đoạn tẩm ướp gia vị. Làm sao để vừa tạo hương vị đặc trưng vừa giúp át bớt mùi khói khi ăn. Đặc biệt không thể quên loại gia vị tên gọi là mắc khén, một loại hạt tiêu rừng của người dân Tây Bắc. Trong những ngày mùa đông gió rét, được ngồi quanh bếp lửa. Cùng nhau thưởng thức những miếng thịt vương vương mùi khói. Cảm nhận độ dai dai bùi bùi của thịt thì còn gì bằng.

    Lạp xưởng Yên Bái

    Cùng với thịt trâu gác bếp, lạp xưởng Yên Bái là một món ăn truyền thống có tiếng ở vùng đất này. Muốn làm ra những xâu lạp xưởng ngon nhất, người thực hiện cần có tay nghề. Làm lạp xưởng cần có nhiều công đoạn khác nhau, từ việc tuyển chọn nguyên liệu, nêm nếm gia vị sao cho hài hòa. Nhưng cuối cùng vẫn giữ được nét đặc trưng. Đặc biệt là phải biết khoảng thời gian nêm như thế nào là đủ. Giai đoạn hun trên bếp, chú ý không được để lửa quá to hay quá nhỏ…

    Bánh chưng đen Mường Lò

    Bánh chưng xanh ngày Tết hẳn không còn xa lạ với nhiều người. Nhưng khi nói đến bánh chưng đen thì ít người được thưởng thức. Món ăn này cũng được làm từ gạo nếp, đậu xanh và thịt lợn. Tuy nhiên điểm nhấn đặc biệt của nó chính là các công đoạn để làm nên. Ngay từ khâu lựa chọn nguyên liệu, người dân nơi đây phải lựa những tàu lá dong vừa phải, đủ gói. Chọn gạo nếp phải là gạo nếp thơm Tú Lệ. Đỗ xanh hạt mẩy và thịt lợn ba chỉ nêm nếm sao cho đủ hạt tiêu, gia vị.

    Để có màu đen đặc trưng của bánh, người ta phải ngâm nó trong nước tro vừng, hoặc nước vỏ cây núc nác. Chiếc bánh thơm ngậy, thích mắt đảm bảo khó lòng mà từ chối thưởng thức.

    Xôi trứng kiến Mù Cang Chải

    Xôi thì ở nhiều vùng miền ai cũng đều biết cách nấu. Nhưng mỗi nơi bà con đều có sự kết hợp nguyên liệu rất thú vị. Nếu Kon Tum bà con có món xôi măng độc đáo thì bà con vùng Tây Bắc có xôi ngũ sắc ấn tượng. Bên cạnh đó, bà con người Tày, người Dao, người Thái ở tỉnh Yên Bái lại có cách kết hợp rất lạ, đó là xôi và trứng kiến. Từ đó cho ra món xôi trứng kiến rất hấp dẫn.

    Điểm nhấn của món xôi trứng kiến đó chính là trứng kiến đen và gạo nếp nương của Mù Cang Chải. Khi tiết trời sang xuân ấm áp là lúc loài kiến ở Mù Cang Chải sinh sôi và phát triển mạnh mẽ. Đây là thời điểm vàng để bà con có thể lấy trứng kiến về đồ xôi. Người ta sẽ chọn những ngày nắng ráo để lấy nguyên liệu trứng kiến. Nếu không chọn ngày nắng thì trứng kiến thấm nước mưa ăn không ngon.

    Măng vầu cuốn thịt

    Măng vầu thuộc họ tre, thân nhỏ không có gai. Mọc ở rừng hoặc trên núi. Hàng năm, cứ đến tháng 12, khi mưa xuân lây phây, từ dưới lớp lá hoại mục, măng bắt đầu nhú lên. Từ tháng 12 đến khoảng giữa tháng 3, những củ măng to, tròn và rất ngọt, măng thời điểm này ngon nhất.

    Món măng vầu cuốn thịt không cầu kỳ, phức tạp. Chỉ cần mớ rau răm, một quả trứng, thịt ba chỉ và các loại gia vị như muối, bột ngọt… Trước tiên là chọn củ to luộc trên bếp từ 3 đến 5 tiếng cho đỡ he và dễ gọt. Sau khi bỏ hết lớp vỏ già bên ngoài, người ta dùng tay bóc nhẹ lấy lớp lá non. Cần khéo léo, nếu lỡ tay để lá bị rách, khi cuốn thịt dễ bị bung ra ngoài. Còn phần củ, dùng dao gọt xung quanh. Độ dài khoảng tám đến mười phân. Gọt thật mỏng để tránh bị dai khi ăn.

    Phần nhân thịt thì dùng thịt ba chỉ vì có cả mỡ lẫn nạc. Rau răm băm thật nhỏ, trộn đều với thịt đã xay nhuyễn và trứng, nêm gia vị cho vừa ăn.

    Xong khâu chuẩn bị thì đến phần cuốn. Lớp lá non cuốn nhân thịt thì được xếp trên cùng vì chúng dễ chín hơn. Khi nồi nóng lên, cho thêm một chút nước vào. Phải luôn giữ ngọn lửa vừa phải, đun đến khi măng mềm và chín là có thể lấy ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 2 Cách Làm Xoài Dầm Ngon Khó Đỡ
  • Hướng Dẫn Nấu Xôi Gấc Cho Cực Đơn Giản
  • Top 11 Quán Xôi Ngon Hà Nội Không Thể Bỏ Qua
  • Tổng Hợp Cách Làm Các Món Xôi Đơn Giản
  • Món Cật Heo Xào Ớt Chuông Ngon Khó Cưỡng ” Thế Giới Ẩm Thực
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100